Nâng cao năng lực số hóa quản trị chất lượng lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long

Khi tiêu chuẩn thị trường quốc tế đòi hỏi minh bạch về xuất xứ và hạn ngạch phát thải, dữ liệu số hóa trên đồng ruộng đã trở thành một phần của quy trình sản xuất. Việc ứng dụng công nghệ trong quản trị lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ nâng cao năng suất kỹ thuật, mà còn tạo nền tảng định giá cho các dòng sản phẩm xanh.
Công cụ số giúp chuẩn hóa và nâng cao giá trị gạo Việt.

Chuẩn hóa dữ liệu từ thửa ruộng

Chuyển đổi số trong ngành lúa gạo đã vượt qua giai đoạn dán tem QR thương mại đơn thuần. Giá trị cốt lõi nằm ở khả năng số hóa toàn bộ nhật ký canh tác: từ chủng loại giống, quy trình gieo sạ, lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho đến công nghệ tưới tiêu và sản lượng thu hoạch. Việc lưu trữ dữ liệu tập trung giúp các cơ quan quản lý và doanh nghiệp chuyển từ cơ chế kiểm tra chất lượng ở cuối chuỗi sang quản trị chủ động ngay từ khâu đầu vào.

Tại Cần Thơ, yêu cầu này được hiện thực hóa khi địa phương triển khai nhân rộng Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp trên khoảng 170.877 ha tại 64 xã, phường. Với quy mô sản xuất lớn, phương thức quản lý thủ công bằng sổ sách không thể đáp ứng tiêu chuẩn theo dõi đồng nhất giữa các tiểu vùng. Kết quả thực nghiệm do Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) công bố năm 2026 tại 8 mô hình (quy mô 50 ha/mô hình) cho thấy: việc áp dụng sạ hàng kết hợp vùi phân chính xác giúp giảm lượng giống xuống còn 50–60 kg/ha, lượng đạm dưới 70 kg/ha (giảm 30% so với khuyến cáo chung), thuốc bảo vệ thực vật giảm trên 20%, trong khi năng suất tăng 5% và cắt giảm đáng kể lượng phát thải khí nhà kính.

Thực tế này chứng minh dữ liệu số chỉ thực sự phát huy giá trị kinh tế khi trực tiếp can thiệp vào từng quyết định kỹ thuật. Nhờ đo lường chính xác nhu cầu dinh dưỡng của đất và cây trồng, nông dân thay thế thói quen ước lượng bằng quy trình điều chỉnh tối ưu. Giảm phát thải vì thế không còn là tiêu chí lý thuyết mà đi liền với mục tiêu cắt giảm chi phí vật tư và nâng cao tỷ suất lợi luận trên từng hecta.

Sự chuyển biến này cũng diễn ra mạnh mẽ tại Đồng Tháp thông qua việc phổ cập kỹ năng số cho lực lượng sản xuất cốt lõi. Tính đến tháng 6/2026, hơn 79.000 thành viên hợp tác xã và hội quán (đạt tỷ lệ 85%) đã thành thạo các kỹ năng số cơ bản. Gần 300 hợp tác xã trên địa bàn tỉnh được đào tạo ứng dụng phần mềm truy xuất nguồn gốc, quản lý mã số vùng trồng và kết nối dữ liệu thị trường.

Thương mại hóa chứng chỉ xanh bằng dữ liệu kiểm định

Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao đặt ra các chỉ số kinh tế - môi trường cụ thể đến năm 2030: giảm trên 10% lượng phát thải khí nhà kính, tăng 40% giá trị gia tăng toàn chuỗi, nâng tỷ suất lợi nhuận của người trồng lúa đạt trên 50% và đưa dòng gạo phát thải thấp chiếm trên 20% tổng lượng xuất khẩu toàn vùng.

Các mục tiêu trên biến dữ liệu canh tác thành điều kiện tiên quyết trong giao dịch thương mại. Để gắn nhãn phát thải thấp và bán với mức giá cao hơn, doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ hồ sơ kỹ thuật có khả năng kiểm chứng. Ngược lại, việc sở hữu tập dữ liệu vùng trồng đáng tin cậy giúp doanh nghiệp chủ động kiểm soát chất lượng nguyên liệu và tối ưu hóa hợp đồng liên kết bao tiêu với nông dân.

Mô hình lúa - tôm tại Cà Mau là minh chứng điển hình cho xu hướng này. Kế hoạch hành động giai đoạn 2026 -2035 của tỉnh tập trung thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc tích hợp mã QR cho các sản phẩm nông nghiệp phát thải thấp. Đối với vùng sinh thái lúa - tôm, giá trị hạt lúa được định vị dựa trên quy trình canh tác hữu cơ tự nhiên, không hóa chất độc hại, một đặc tính chỉ có thể chứng minh thông qua hệ thống nhật ký điện tử minh bạch.

Từ Cần Thơ, Đồng Tháp đến Cà Mau, một hạ tầng quản trị số đang dần hình thành ở cấp độ hợp tác xã và từng thửa ruộng. Mục tiêu cốt lõi của số hóa lúa gạo không dừng lại ở mật độ thiết bị trên cánh đồng, mà nằm ở năng lực minh bạch hóa hồ sơ sản xuất. Khi mỗi mùa vụ đều lưu lại một tập dữ liệu chuẩn xác, các thuộc tính "xanh, sạch hay phát thải thấp" mới thực sự trở thành tài sản kinh tế được thị trường công nhận và chi trả xứng đáng. 

Kim Trang

Theo Tạp chí Doanh nghiệp và Thương hiệu nông thôn

Xây lại niềm tin cho thị trường thực phẩm chức năng

Thị trường thực phẩm chức năng đang chịu sức ép kép khi vừa đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng vừa phải thu hẹp khoảng cách giữa hồ sơ pháp lý và thông tin quảng bá đến người mua. Năm 2026, các quy định về quảng cáo, hậu kiểm và phân cấp thủ tục tiếp tục được điều chỉnh, đặt yêu cầu minh bạch lên cả cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chủ thể truyền thông.

Chuẩn hóa vùng trồng để mở dư địa cho chuối tươi xuất khẩu

Quy mô sản xuất lớn, tỷ lệ sản lượng dành cho xuất khẩu cao nhưng diện tích được cấp mã số vùng trồng chuối vẫn còn khoảng cách đáng kể. Đây là bài toán đặt ra cho ngành chuối khi muốn mở rộng thị trường và nâng giá trị xuất khẩu trong những năm tới.

Hải quan đồng hành cùng doanh nghiệp: Lấy hiệu quả hỗ trợ làm thước đo cho quan hệ đối tác

Nhằm tháo gỡ triệt để các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong hoạt động xuất nhập khẩu, ngành Hải quan đang không ngừng mở rộng, đa dạng hóa các kênh hỗ trợ doanh nghiệp. Việc công khai đầu mối tiếp nhận phản ánh, nâng cao trách nhiệm công vụ và tăng cường tham vấn ý kiến cộng đồng doanh nghiệp đã và đang đưa mối quan hệ đối tác Hải quan - Doanh nghiệp đi vào thực chất, tạo động lực thúc đẩy thương mại phát triển.

Ớt gió khẳng định giá trị đặc sản kinh tế vùng cao

Sở hữu hương vị độc đáo cùng kích thước nhỏ, ớt gió vùng cao phía Bắc đang chuyển mình từ loại gia vị bản địa thành sản phẩm nông nghiệp đắt giá, mở ra hướng đi bền vững cho kinh tế nông thôn.

Video