Vượt rào cản, đưa hàng Việt vào thị trường Halal rộng lớn

Tốc độ tăng trưởng 6 - 7%/năm, quy mô đạt 7.700 tỷ USD, thị trường Halal trở thành một trong những động lực quan trọng của kinh tế thế giới.

Với kinh tế Việt Nam đang hướng đến mục tiêu tăng trưởng cao, thị trường Halal hoàn toàn trở thành động lực mới nếu được khai thác hiệu quả tiềm năng. Đặc biệt, là quốc gia xuất khẩu nông lâm thủy sản kỷ lục năm 2025, nhiều sản phẩm nông nghiêp đặc sản của Việt Nam như thủy sản, gạo, cà phê, hồ tiêu, điều, dệt may đều có dư địa “Halal hóa”.

Nhiều cơ hội mới từ thị trường Halal

Vượt ra khỏi ranh giới tôn giáo, kinh tế Halal trở thành một siêu thị trường tiêu dùng toàn cầu. Thị trường này phục vụ hơn 2 tỷ người - tương đương hơn 25% dân số thế giới, tập trung tại 57 quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác Hồi giáo (OIC).

PGS TS Nguyễn Xuân Trung - Viện trưởng Viện nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi

PGS TS Nguyễn Xuân Trung - Viện trưởng Viện nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi cho biết: Halal hiện không đơn thuần là yêu cầu tuân thủ tôn giáo mà còn bao hàm những chuẩn mực khắt khe về chất lượng, an toàn, minh bạch, trách nhiệm trong toàn bộ chuỗi cung ứng sản phẩm và dịch vụ.

Từ lĩnh vực thực phẩm, khái niệm Halal đã mở rộng mạnh mẽ sang các ngành công nghiệp đa dạng như dược phẩm, mỹ phẩm, tài chính, du lịch, logistics... hình thành hệ sinh thái kinh tế toàn diện. Đáng chú ý, xu hướng tích hợp các giá trị đạo đức, sức khỏe và thân thiện môi trường của kinh tế Halal tương thích với mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu và phù hợp với định hướng kinh tế xanh mà Việt Nam đang theo đuổi.

Nhu cầu với các sản phẩm Halal vì thế không giới hạn trong cộng đồng Hồi giáo mà lan rộng sang người tiêu dùng phi Hồi giáo.

Với Việt Nam, thị trường Halal đang mở ra nhiều cơ hội mới. Phân tích thêm về nội dung này, PGS TS Đinh Công Hoàng - Viện nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi thông tin: các quốc gia OIC với GDP ước tính khoảng 10 nghìn tỷ USD năm 2025 đang nhập khẩu ròng phần lớn nhu cầu thực phẩm. Điều này tạo “thế bổ sung tự nhiên” với cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam.

Theo PGS TS Đinh Công Hoàng, Việt Nam sở hữu những lợi thế cạnh tranh mà không nhiều quốc gia có được trong tiếp cận kinh tế Halal toàn cầu. Đó là năng lực sản xuất nông nghiệp cao, trong đó nhiều mặt hàng có giá trị cao để “Halal hóa” như thủy sản, thịt gia cầm chế biến, thực phẩm chức năng.

Hiện khoảng 50% xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Trung Đông và châu Phi đã là sản phẩm Halal. Các mặt hàng thủy sản, nông sản chiếm 30 - 35% tổng kim ngạch xuất khẩu thực phẩm của Việt Nam sang khu vực này.

Bên cạnh đó, với 17 FTA có hiệu lực, bao phủ các thị trường Halal trọng điểm, Việt Nam có lợi thế thuế quan và tiếp cận thị trường mà các đối thủ cạnh tranh trực tiếp chưa có đầy đủ.

Mở cửa thị trường lớn

Mặc dù có nhiều lợi thế song xuất khẩu Halal của Việt Nam còn rất khiêm tốn. Năm 2025, tổng xuất khẩu hàng Halal sang Trung Đông và châu Phi ước đạt 800 - 850 triệu USD. Con số này chỉ chiếm khoảng 1,12% tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản và bằng 2,06% tiềm năng 34 tỷ USD nhập khẩu của thị trường.

Hiện khoảng 50% xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Trung Đông và châu Phi đã là sản phẩm Halal (ảnh minh hoạ)

Về cơ cấu ngành hàng, Việt Nam xuất khẩu khoảng 20 loại hàng hóa sang thị trường Halal. Con số cũng rất nhỏ so với hàng trăm nhóm sản phẩm có thể “Halal hóa”.

Tỷ lệ khiêm tốn này bởi số lượng doanh nghiệp được cấp chứng nhận Halal khoảng hơn 1.000 doanh nghiệp. Đây quy mô nhỏ so với khoảng 800.000 doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.

Nguyên nhân của khoảng cách lớn trên, theo các chuyên gia, các sản phẩm hàng hoá từ Việt Nam đang thiếu “hộ chiếu”. Đó là khoảng cách về tiêu chuẩn, chứng nhận được thị trường OIC chấp nhận hay rào cản mềm đến từ nhận thức và văn hoá. Trong khi đó, năng lực doanh nghiệp, phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực nông nghiệp - thực phẩm còn hạn chế.

Kinh nghiệm từ một số quốc gia đã thành công trong khai thác hiệu quả thị trường Halal như Thái Lan, Indonesia, Malaysia cho thấy, cần có chiến lược tiếp cận thị trường và được hỗ trợ bởi chương trình xúc tiến quốc gia bài bản.

Với Việt Nam, tham gia kinh tế Halal muộn hơn. Năm 2026 chưa thể kỳ vọng thị trường này có thể bứt phá ngay nhưng các chuyên gia cho rằng, đây là thời điểm bản lề để kích hoạt chiến lược, tạo đà tích lũy vững chắc cho cả giai đoạn tăng trưởng.

Trên cơ sở đó, để chuyển hóa triệt để khối thặng dư tiềm năng vĩ mô thành động lượng tăng trưởng thực tế, các chuyên gia Viện nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi nhấn mạnh đến việc cần sớm hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa chứng nhận Halal quốc gia.

Tham khảo kinh nghiệm các quốc gia, phát triển hạ tầng Halal và khu công nghiệp Halal thí điểm có vai trò quan trọng. Trong đó thí điểm ít nhất hai khu công nghiệp Halal quốc gia đi cùng cơ chế ưu đãi cho doanh nghiệp.

Cùng với đó, phát triển nguồn nhân lực Halal và nâng cao nhận thức về văn hóa Islam. Đây là trụ cột 'mềm' nhưng có tác động xuyên suốt. Đồng thời xây dựng thương hiệu “Made in Vietnam - Halal Certified” dựa trên ba lợi thế khác biệt hóa và mở rộng thị trường, đẩy mạnh xúc tiến thương mại...

Theo Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp

Phát triển hạ tầng chiến lược: Động lực cho chu kỳ tăng trưởng mới

Trong tiến trình phát triển của các nền kinh tế hiện đại, hạ tầng luôn được xem là nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với Việt Nam, khi bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, yêu cầu về một hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại càng trở nên cấp thiết. Không chỉ dừng ở giao thông hay đô thị, hạ tầng ngày nay còn bao gồm logistics, năng lượng, công nghệ số và các dịch vụ công thiết yếu - những yếu tố cấu thành nền tảng vận hành của nền kinh tế.

Kịch bản để tăng trưởng kinh tế cán mốc 2 con số

Để đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2026, các quý tiếp theo phải ghi nhận mức tăng trên 10,5%. Điều này đòi hỏi sự đồng bộ trong điều hành chính sách và kích hoạt các động lực tăng trưởng mới.

Ngành dược năm 2026: Khi "cuộc đua doanh số" nhường chỗ cho giá trị bền vững

Bước sang năm 2026, thị trường dược phẩm Việt Nam không chỉ chứng kiến sự bùng nổ về quy mô mà còn đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tư duy quản trị. Thay vì chạy theo tăng trưởng nóng bằng mọi giá, các doanh nghiệp đầu ngành đang chuyển mình mạnh mẽ sang mô hình phát triển chiều sâu, lấy tiêu chuẩn chất lượng quốc tế và năng lực số hóa làm "hàng rào" cạnh tranh.

Biến nợ xấu thành nguồn lực cho phát triển

Trong bối cảnh mới, nợ xấu không còn là vấn đề riêng của hệ thống ngân hàng, mà là một yếu tố có tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô và khả năng huy động, phân bổ nguồn lực của nền kinh tế. Nếu không được xử lý hiệu quả, nợ xấu sẽ trở thành điểm nghẽn của tăng trưởng, nhưng nếu được xử lý đúng cách, nợ xấu hoàn toàn có thể trở thành nguồn lực cho phát triển. Đó là ý kiến được trao đổi tại Toạ đàm “Nợ xấu trong bối cảnh mới” do Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức chiều 15/4. Tọa đàm có hơn 200 đại biểu tham dự trực tiếp, cùng trên 100 đại biểu theo dõi trực tuyến.

Video