Tăng cường hiệu quả quản lý, tiến độ thu thuế “về đích” sớm

Theo Tổng cục Thuế, Tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) lũy kế 11 tháng năm 2021 do cơ quan thuế quản lý ước đạt 1.180 nghìn tỷ đồng, bằng 105,1% so với dự toán pháp lệnh, bằng 107,5% so với cùng kỳ năm 2020, nếu loại trừ yếu tố gia hạn và một số khoản thu đột biến thì bằng 104,1% so với cùng kỳ.

Triển khai thực áp dụng đơn điện tử tại các địa phương, góp phần thay đổi phương thức quản lý hóa đơn, tiết kiệm chi phí cho DN và tạo thuận lợi trong quản lý thuế

14/18 khoản thu, sắc thuế bảo đảm tiến độ 

Trong đó, thu từ dầu thô ước đạt 38.104 tỷ đồng, bằng 164,2% so với dự toán, bằng 120% so với cùng kỳ, thu nội địa ước đạt 1.135.587 tỷ đồng, bằng 103,8% so với dự toán, bằng 107,1% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, số thu từ thuế, phí nội địa ước đạt 900.567 tỷ đồng, bằng 102,1 % so với dự toán, bằng 111,1% so với cùng kỳ năm 2020. 

So với dự toán có 14/18 khoản thu, sắc thuế bảo đảm tiến độ thực hiện dự toán (đạt trên 91%), trong đó một số khoản thu lớn như: doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) ước thu đạt 101,6%; doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 99,5%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh ước đạt 107,8%; thuế thu nhập cá nhân ước đạt 107,7%; tiền sử dụng đất ước đạt 121,5%; tiền thuê đất ước đạt 125,9%. 

Có 8/18 khoản thu, sắc thuế có mức tăng trưởng thu như: khu vực DNNN tăng 13,1%; khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài ước tăng 11,1%; khu vực ngoài quốc doanh ước tăng 25,8%; thuế thu nhập cá nhân ước tăng 7,6%; lệ phí trước bạ ước tăng 6,9%; thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên ước tăng 14,9%... 

Số thu thuế, phí nội địa đạt khá so với dự toán là do các địa phương đã mở cửa trở lại, kinh tế dần phục hồi, trong đó có một số khối ngành như: ngân hàng thương mại, hoạt động kinh doanh bất động sản, hoạt động chuyển nhượng vốn và đầu tư vốn, hoạt động kinh doanh chứng khoán có tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước. 

Bên cạnh đó, do thực hiện Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế, các DN đã tạm nộp trước số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong 3 quý đầu năm 2021 (ước tính số thuế TNDN tạm nộp trước khoảng 51.600 tỷ đồng) để đảm bảo không thấp hơn 75% số thuế TNDN dự kiến phải nộp của năm 2021. Nếu loại trừ khoản thu này thì thu thuế phí nội địa bằng 100,5% so với cùng kỳ. 

Đáng chú ý, để hỗ trợ người dân và DN vượt qua khó khăn của đại dịch, đẩy nhanh tốc độ hồi phục nền kinh tế, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2021/NĐ-CP về việc thực hiện gia hạn tiền thuế và tiền thuê đất cho trong năm 2021, theo đó thực hiện gia hạn thuế GTGT phải nộp từ tháng 3 đến tháng 8/2021, thuế GTGT quý I và quý II/2021, thuế TNDN tạm nộp quý I và quý II/2021, gia hạn tiền thuê đất kỳ 1 năm 2021 cho các DN bị ảnh hưởng và gia hạn thuế GTGT, TNCN năm 2021 đối với hộ, cá nhân kinh doanh thuộc các ngành, lĩnh vực gặp khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19. 

Ước tính tính đến cuối tháng 11/2021, tổng số đơn đề nghị gia hạn: 139.190 đơn, trong đó có 119.708 DN và tổ chức và 19.482 hộ, cá nhân kinh doanh. Tổng số thuế, tiền thuê đất được gia hạn: 92.825 tỷ đồng. Giải pháp này đã tháo gỡ khó khăn về vốn cho DN thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo nguồn thu cho ngân sách. 

Đẩy mạnh thanh tra, chống gian lận 

Để đạt được kết quả về thu NSNN, về phía ngành thuế đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp quản lý thuế trong đó về công tác thanh tra, kiểm tra với tổng số tiền kiến nghị xử lý qua thanh, kiểm tra là 38.698 tỷ đồng. 

Cơ quan thuế đã tiến hành thanh tra, kiểm tra được 300 DN có hoạt động giao dịch liên kết. Truy thu, truy hoàn và phạt 792,798 tỷ đồng; giảm lỗ 2.780 tỷ đồng; giảm khấu trừ 10,61 tỷ đồng và điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế 1.560 tỷ đồng. Trong đó thanh, kiểm tra xác định lại giá thị trường đối với giao dịch liên kết đã truy thu 476,776 tỷ đồng, giảm lỗ 2.139 tỷ đồng, điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế 1.350 tỷ đồng). 

Đối với công tác quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế, ước tính đến thời điểm ngày 30/11/2021, cơ quan thuế thu được 24.300 tỷ đồng tiền thuế nợ, đạt 80,7% chỉ tiêu thu nợ giao. Từ 1/1/2021 đến cuối tháng 11 năm 2021, cơ quan thuế các cấp đã thực hiện xử lý khoanh nợ tiền thuế, xóa nợ tiền chậm nộp không còn khả năng nộp NSNN theo Nghị quyết 94/2019/QH14 ước đạt 5.220 tỷ đồng. 

Lũy kế từ khi Nghị quyết 94/2019/QH14 có hiệu lực đến cuối tháng 11/2021, cơ quan thuế các cấp đã thực hiện xử lý nợ theo Nghị quyết số 94/2019/QH14 của Quốc hội ước đạt 29.375 tỷ đồng. Trong đó xử lý khoanh nợ là 25.874 tỷ đồng; xử lý xóa nợ tiền chậm nộp là 3.501 tỷ đồng. 

Dù đã sớm đạt kế hoạch đề ra nhưng lãnh đạo ngành thuế đề nghị các đơn vị cần phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN năm 2021 được Quốc hội, Chính phủ giao ở mức cao nhất, góp phần tạo nguồn lực cho phục hồi kinh tế cũng như chống dịch COVID-19. 

Từ nay đến cuối năm, cơ quan thuế các cấp sẽ tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện tốt Luật Quản lý thuế và các Luật thuế và các văn bản hướng dẫn. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về thuế, đơn giản hóa điều kiệm kinh doanh, đẩy mạnh điện tử hóa quản lý thuế theo tinh thần Nghị quyết số 02-2021/NQ-CP của Chính phủ. 

Toàn ngành thuế sẽ theo dõi chặt chẽ, đôn đốc thu đúng, đủ, kịp thời các khoản thu đã được gia hạn theo Nghị định số 52/2021/NĐ-CP khi hết thời gian gia hạn, tránh việc phát sinh nợ thuế và tiền chậm nộp làm tăng thêm khó khăn về tài chính cho DN. Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt việc miễn, giảm tiền thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất cho DN và người dân theo các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ Quốc hội để tháo gỡ, hỗ trợ kịp thời những khó khăn cho DN và người dân, hồi phục và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, từ đó góp phần tăng thu bền vững cho NSNN. 

Trong thời gian tới, ngành thuế sẽ đẩy mạnh công tác quản lý thu trên nền tảng số, đẩy mạnh triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý thuế, đẩy mạnh điện tử hóa trên phạm vi cả nước ở tất cả các khâu quản lý thuế để hỗ trợ hoạt động kinh doanh của người nộp thuế. 

Bảo đảm hệ thống CNTT thông suốt 24/7 để hỗ trợ người nộp thực hiện nghĩa vụ với NSNN từ khâu đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế điện tử mà không cần phải đến trực tiếp cơ quan thuế, giảm thời gian thực hiện các thủ tục tạo thuận lợi cho người nộp… 

Triển khai thực áp dụng đơn điện tử tại các địa phương, góp phần thay đổi phương thức quản lý hóa đơn, tiết kiện chi phí cho DN và tạo thuận lợi trong quản lý thuế. 

Khẩn trương đáp ứng yêu cầu nâng cấp về hệ thống ứng dụng CNTT để triển khai các quy trình, chính sách mới và yêu cầu sửa đổi chính sách nhằm đơn giản hoá thủ tục hành chính, giảm số giờ tuân thủ về thuế theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. 

Lãnh đạo Tổng cục thuế yêu cầu cơ quan thuế các cấp sẽ tập trung triển khai thực hiện các giải pháp quản lý thu NSNN, bám sát diễn biến tình hình hoạt động kinh doanh của các DN, quản lý chặt chẽ công tác kê khai, nộp thuế, hoàn thuế của các DN, đôn đốc DN thực hiện nộp đúng, đủ, kịp thời các khoản thu vào NSNN, nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra, chống thất thu… Trong đó, đặc biệt lưu ý đối với những DN có rủi ro cao về thuế, những DN thuộc những lĩnh vực được hưởng lợi trong thời gian đại dịch (thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng…). 

Bên cạnh đó, ngành thuế sẽ tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan công an, hải quan, quản lý thị trường chống thất thu NSNN, nhất là trong tháng cuối năm, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng lành mạnh qua đó khuyến khích, thu hút đầu tư. 

Tính đến 12h ngày 27/11/2021 số liệu hoá đơn điện tử đã tiếp nhận và xử lý trên Hệ thống hoá đơn điện tử trên địa bàn 6 tỉnh/thành phố (thí điểm: có 25.051 hồ sơ đăng ký của đã gửi đến cơ quan thuế; cơ quan thuế đã xử lý và trả kết quả cho 21.581 hồ sơ (chiếm 86,14% số lượng tờ khai đăng ký). Cơ quan thuế đã nhận tổng số 27.961 hóa đơn đề nghị cấp mã của người nộp và đã hoàn thành xử lý 100% (cơ quan Thuế đã cấp mã cho 27.379 hóa đơn và thông báo không đủ điều kiện cấp mã 582 hóa đơn). 
Theo Anh Minh (Chinhphu.vn)

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Xuất khẩu gạo đầu năm 2026: Thời cơ đã đến nhưng cạnh tranh khốc liệt hơn

Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam bước vào đầu năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực khi Philippines là một trong những khách hàng lớn nhất dự kiến mở lại nhập khẩu sau giai đoạn điều tiết nguồn cung trong nước. Tuy nhiên, đi kèm với việc mở cửa là chính sách tăng thuế nhập khẩu, khiến bức tranh thị trường không chỉ có gam sáng mà còn đan xen nhiều thách thức, đặc biệt là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Video