Kinh tế biển xanh - hướng đến phát triển bền vững kinh tế biển

“Kinh tế biển xanh - hướng đến kịch bản phát triển bền vững kinh tế biển” là một trong những nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về phát triển kinh tế biển sử dụng khái niệm kinh tế biển xanh.
Kinh tế biển xanh – hướng đến phát triển bền vững kinh tế biển - Ảnh 1.

Các nhà quản lý và chuyên gia thảo luận về những nội dung đáng chú ý của Báo cáo Kinh tế biển xanh - Ảnh: VGP/TC

Kinh tế biển xanh - xu hướng phát triển của thế giới

Ngày 12/5, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường) và Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) phối công bố Báo cáo "Kinh tế biển xanh – hướng đến kịch bản phát triển bền vững kinh tế biển" trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Kinh tế biển xanh đang là xu hướng phát triển của thế giới, đặc biệt là các quốc gia có biển. Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam về phát triển kinh tế biển sử dụng khái niệm kinh tế biển xanh. 

Báo cáo đưa ra các kịch bản xanh lam trong phát triển kinh tế biển cho Việt Nam, gồm 6 lĩnh vực kinh tế biển chủ chốt, gồm ngư nghiệp, năng lượng tái tạo, dầu khí, du lịch, giao thông vận tải, môi trường và hệ sinh thái.

Một số kịch bản đến năm 2030 đã được phát triển cho từng ngành, lĩnh vực, bao gồm kịch bản cơ sở và kịch bản "phát triển bền vững", hay còn gọi là "xanh lam", phù hợp và bám sát khái niệm kinh tế xanh và kinh tế biển xanh.

Kịch bản "xanh lam" mang lại lợi ích vượt trội về sự đóng góp GDP, GNI của các ngành kinh tế biển và thu nhập bình quân đầu người cho cho các lao động nghề biển. Nghiên cứu cho thấy với kịch bản "xanh lam" được áp dụng, GDP của kịch bản này sẽ hơn kịch bản cơ sở lần lượt là 296.000 tỷ đồng (12,9 tỷ USD) vào năm 2025 và 538.000 tỷ đồng (23,5 tỷ USD) vào năm 2030.

Thúc đẩy 6 ngành kinh tế biển

Phát biểu tại lễ công bố, bà Caitlin Wiesen, Trưởng Đại diện thường trú UNDP nhấn mạnh, Việt Nam là đất nước có đường bờ biển dài cung cấp vốn tự nhiên lớn cho phát triển kinh tế. Với lợi thế đường bờ biển dài có nhiều tiềm năng năng lượng ngoài khơi như vậy, nếu được phát triển hợp lý, sẽ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng.

Tuy nhiên, đại dương đang phải đối mặt với những mối đe dọa và rủi ro ngày càng tăng do biến đổi khí hậu, thiên tai, ô nhiễm môi trường, khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên và kinh tế thiếu bền vững. 

Đáng lo ngại là, ở Việt Nam, mỗi ngày có khoảng 2.000 tấn rác thải nhựa từ trong nước rò rỉ ra biển. Dự báo cho thấy, nếu không có gì thay đổi, sẽ có nhiều nhựa hơn cá tại các đại dương vào năm 2050.

Đứng trước thực tế trên, theo bà Caitlin Wiesen, báo cáo đầu tiên về kinh tế biển xanh đã tập trung vào 6 ngành kinh tế biển chính là ngư nghiệp, năng lượng tái tạo, dầu khí, du lịch, giao thông vận tải, môi trường và hệ sinh thái, được kỳ vọng là tài liệu quan trọng, nhằm hỗ trợ Việt Nam phát triển kinh tế biển xanh, thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 36/NQ-TW.

Theo ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, báo cáo đã đưa ra một số khuyến nghị quan trọng để thúc đẩy kinh tế biển xanh tại Việt Nam, góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc, trong đó có mục tiêu SDG14 về bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, biển và tài nguyên biển.

Theo đó, đối với năng lương tái tạo biển, báo cáo khuyến nghị Việt Nam cần mở rộng nhanh chóng các nguồn năng lượng tái tạo biển đạt 10.000 MW lắp đặt vào năm 2030. Trong đó, khoảng 4.500 MW gió gần bờ (chủ yếu là tại ĐBSCL) và 5.500 MW gió ngoài khơi, chủ yếu là tại khu vực Nam Trung Bộ.

Báo cáo cũng khuyến nghị thúc đẩy tiết kiệm năng lượng trong các hoạt động sản xuất dầu khí, tăng cường bảo vệ môi trường, tham gia vào lĩnh vực sản xuất năng lượng tái tạo trên biển mới nổi.

Với lĩnh vực thủy sản và nuôi trồng thủy sản, báo cáo khuyến nghị giảm giảm sản lượng đánh bắt thủy sản xuống mức sản lượng bền vững tối đa (khoảng 2,7 triệu tấn mỗi năm) thông qua việc giảm sản lượng đánh bắt 2% mỗi năm, duy trì diện tích nuôi trồng thủy sản;và cải tiến quản lý đến năng suất an toàn…

Đối với lĩnh vực du lịch, báo cáo khuyến nghị thúc đẩy tăng trưởng khách quốc tế 8-10%/năm và khách nội địa 5-6%/năm đến năm 2030; đưa các tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm cả nước biển dâng) vào quy hoạch du lịch.

Ngoài ra, báo cáo khuyến nghị tăng vận tải biển lên 20,6% vào năm 2030, nâng khối lượng hàng hóa vận chuyển lên 787 triệu tấn và mở rộng vận tải nội địa lên 289 triệu tấn. 

Theo Thu Cúc (Chinhphu.vn)

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Xuất khẩu gạo đầu năm 2026: Thời cơ đã đến nhưng cạnh tranh khốc liệt hơn

Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam bước vào đầu năm 2026 với nhiều tín hiệu tích cực khi Philippines là một trong những khách hàng lớn nhất dự kiến mở lại nhập khẩu sau giai đoạn điều tiết nguồn cung trong nước. Tuy nhiên, đi kèm với việc mở cửa là chính sách tăng thuế nhập khẩu, khiến bức tranh thị trường không chỉ có gam sáng mà còn đan xen nhiều thách thức, đặc biệt là áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Chuẩn hóa phân loại đô thị, đưa công nhận loại đô thị trở thành công cụ quản lý và điều tiết phát triển bền vững

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội vừa thông qua Nghị quyết về phân loại đô thị, quy định hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn và cơ chế tổ chức thực hiện việc phân loại, công nhận loại đô thị trên phạm vi cả nước. Nghị quyết đặt mục tiêu chuẩn hóa toàn diện phương pháp phân loại đô thị, gắn chặt việc công nhận loại đô thị với quy hoạch, chương trình phát triển đô thị và trách nhiệm thực thi của chính quyền địa phương, qua đó đưa phân loại đô thị trở thành một công cụ quản lý nhà nước thực chất, phục vụ điều tiết đầu tư và phát triển đô thị bền vững.

Video