Xử lý nợ xấu có thể kéo dài hơn

Tín dụng tăng thấp, nợ từ nhóm 2 và cơ cấu lại có xu hướng tăng, dẫn đến lo ngại lớp nợ xấu mới đang hình thành.

Tín dụng tăng thấp

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tín dụng đến cuối tháng 5 mới chỉ tăng 2,41%, thấp hơn 3,17% của cùng kỳ năm 2023.

Một lãnh đạo NHNN cho biết trong thời gian qua, ngành và các TCTD đã rất tích cực triển khai các gói vay với lãi suất lãi suất ưu đãi, cùng như thúc đẩy các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại các địa phương trên toàn cầu, nhưng tín dụng chậm vẫn phụ thuộc vào nhu cầu vay vốn yếu trong nền kinh tế. 

Số dư nợ tái cơ cấu theo Thông tư 02 được một vài ngân hàng công bố cũng ghi nhận xu hướng tăng, cho thấy khó khăn vẫn tương đối lớn. (Ảnh minh họa: Quốc Tuấn)

Mặc dù có điểm sáng là TP. HCM và Hà Nội có tăng trưởng tín dụng cao hơn bình quân ngành và các địa phương, song ở các điểm tập trung đông doanh nghiệp và đầu tàu của vùng kinh tế, thực tế khả năng hấp thụ vốn vẫn chưa thể mạnh lên như giai đoạn trước đây.

Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp vẫn cho biết “không biết vay vốn để làm gì”. Tuy nhiên, niềm tin kinh doanh và kỳ vọng phục hồi kinh tế, tăng tốc sản xuất kinh doanh của khách hàng doanh nghiệp và cá nhân đã cải thiện hơn hẳn so với năm 2023.

Nợ xấu có xu hướng tăng cao

Tín dụng tăng thấp cũng dẫn đến rủi ro nợ xấu tăng lên.

Thống kê 26 ngân hàng Việt Nam (không bao gồm NVB) của TPS ghi nhận, tình hình nợ xấu cuối quý I/2024 tiếp tục tăng lên gần 2,5% sau khi giảm mạnh vào cuối năm 2023 (2,15%) và quay trở lại mức cuối quý III/2023. Tổng mức nợ xấu đạt 222,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10% ytd và tăng 26,5% YoY. Số dư nợ xấu của 26/28 ngân hàng đã tăng so với cuối 2023. Trong đó, chỉ có VPB và BIDV ghi nhận mức giảm nhưng không đáng kể.

Một số ngân hàng cho biết, cả nợ nhóm 2 và nợ tái cơ cấu đều cho thấy dấu hiệu đi lên. “Tuy tỷ lệ tổng thể này hiện tại thấp hơn so với giai đoạn quý II-III/2020 - thời kỳ Covid -19, nhưng khi xem xét riêng từng phần, tỷ lệ nợ xấu (nhóm 3-5) và nợ nhóm 2 đang có sự tăng trưởng đáng chú ý, dẫn đến suy đoán rằng một lớp nợ xấu mới đang bắt đầu xuất hiện”, bà Ngô Thị Lệ Thanh, Giám đốc Trung tâm Phân tích TPS nhận định. 

Tỷ lệ nợ xấu trong năm 2023 có xu hướng cao và đặc biệt từ quý II/2023 có xu hướng giảm nhưng tăng trở lại vào đầu năm 2024. Tỷ lệ dự phòng cho nợ xấu (LLR) quay đầu giảm trong quý I/2024 sau khi tăng nhẹ vào cuối 2023. Điều này cho thấy rằng áp lực để tạo dự phòng cho hệ thống ngân hàng vẫn sẽ rất lớn trong thời gian tới. 

Trong bối cảnh nợ xấu đang tiếp tục gây khó khăn, bộ đệm dự phòng ngày càng mỏng. Trong đó, nhóm ngân hàng lớn như VCB, BID, CTG, TCB hay BAB có mức tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao hơn 100%, còn lại các ngân hàng khác có dấu hiệu giảm và đạt không quá 88% vào cuối quý /2024.

“Áp lực nợ xấu sẽ tiếp tục diễn ra trong năm 2024 khi nền kinh tế phục hồi chậm. Tuy nhiên, việc Thông tư 02 được gia hạn thêm 6 tháng sẽ giúp các ngân hàng có thêm thời gian để trích lập và cơ cấu lại nợ trong khi vẫn có thể giữ nguyên nhóm nợ cho các doanh nghiệp đang gặp khó khăn”, TPS nhìn nhận.

Quá trình xử lý nợ xấu có thể dài hơn

Mirae Asset (MASVN) cũng chung nhận định về các chỉ số chất lượng tài sản ngân hàng ghi nhận giảm trong quý I/2024. Nhóm chuyên gia phân tích cho rằng mặc dù có một vài ngân hàng cho thấy chất lượng tài sản tiếp tục cải thiện trong kỳ, tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu tỷ lệ nợ xấu trung bình của các ngân hàng niêm yết tăng đáng kể và tổng số nợ xấu tăng mạnh so với cuối 2023, mặc dù vẫn thấp hơn mức đỉnh giữa năm 2023. 

Đáng chú ý, đặc tính chung của các ngân hàng có tốc độ gia tăng nợ xấu cao là sở hữu danh mục tín dụng cân bằng giữa các nhóm khách hàng, trong khi những ngân hàng có tỷ trọng nhóm khách hàng cá nhân cao lại thể hiện sự cải thiện về chất lượng tài sản. Qua đó có thể thấy sự gia tăng nợ xấu không phải quá bất thường, vì các doanh nghiệp thường có khả năng chống chịu lâu hơn trước những biến động kinh tế. 

Ngoài ra, ngoài việc kinh tế không phục hồi mạnh mẽ như mong đợi trong quý I/2024, tình trạng trầm lắng của thị trường bất động sản cũng đã làm tăng nợ xấu trong danh mục cho vay mua nhà.

Một số tổ chức cũng đã đưa ra các dữ liệu minh chứng rằng khi thị trường bất động sản vẫn chưa phục hồi, nền kinh tế chưa hoàn toàn khởi sắc và thu nhập khả dụng người dân còn chưa tươi sáng thêm, thì danh mục của các ngân hàng tập trung bán lẻ, cho vay mua nhà có rủi ro tăng nợ có vấn đề, chuyển thành nợ xấu.

Nói cách khác, quá trình xử lý nợ xấu nhiều khả năng sẽ kéo dài hơn dự kiến, đi cùng sự kéo dài của Thông tư 02 cho phép kéo giãn thời gian ghi nhận/hình thành nợ xấu cho đến cuối năm 2024, chờ tình hình tổng quan khởi sắc hơn, còn có sự phụ thuộc vào khởi sắc của nền kinh tế và đặc biệt là bất động sản, vừa ở góc độ tăng được nhu cầu hấp thu - thúc đẩy dòng vốn, vừa ngăn ngừa, giảm nợ xấu mới phát sinh mới.

Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) cho biết, việc kéo dài Thông tư theo dự thảo của NHNN đến hết 31/12/2024 sẽ không ảnh hưởng đến cơ chế trích lập dự phòng rủi ro do kéo dài thời gian cơ cấu nợ và giữ nguyên nhóm nợ đối với hệ thống.

Đồng thời, việc kéo dài thời gian cơ cấu nợ theo Thông tư 02 sẽ góp phần làm giảm mức độ gia tăng nợ xấu nội bảng của TCTD; và tạo điều kiện cho TCTD thực hiện hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng, góp phần hỗ trợ phục hồi nền kinh tế.

Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP HCM (HoREA) kiến nghị, gia hạn Thông tư 02 nằm trong nhóm các chính sách rất tích cực mà NHNN đã ban hành thời gian qua. Tuy nhiên theo ông Châu việc kéo dài đến hết năm 2024 là ngắn. Nếu được xem xét kéo dài đến tháng 6/2025 hoặc hết 2025 thì hết 2024 doanh nghiệp… đỡ phải kiến nghị lần nữa. Qua đó, các bên cũng có thêm thời gian, có sự chủ động trong khoanh, xử lý, trả nợ cũ và tiếp cận vay mới.

Với kỳ vọng dòng tín dụng sẽ tuôn chảy mạnh cuối năm, thu nhập và chi tiêu hộ cá nhân, gia đình đều tăng mạnh, bất động sản “ngấm” các chính sách hỗ trợ tăng sức phục hồi…, việc “cho thời gian” vì vậy cũng là "liều thuốc" cộng thêm cần thiết đối với vấn đề xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tài sản ngân hàng. 

 

 

 

Theo Diễn đàn doanh nghiệp

Ngành Ngân hàng tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột ổn định vĩ mô và dẫn dắt dòng vốn

Hành trình 75 năm xây dựng và phát triển của ngành Ngân hàng luôn gắn liền với những bước chuyển quan trọng của nền kinh tế đất nước. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, đặc biệt khi năm 2026 mở đầu giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV với yêu cầu tăng trưởng cao hơn, điều hành chính sách tiền tệ đứng trước yêu cầu ngày càng lớn: vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn hệ thống, vừa dẫn dắt và phân bổ hiệu quả dòng vốn cho nền kinh tế. Nhân dịp kỷ niệm 75 năm thành lập ngành Ngân hàng, Thống đốc NHNN Việt Nam Phạm Đức Ấn đã có chia sẻ với phóng viên Thời báo Ngân hàng về mục tiêu, định hướng điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng trong giai đoạn mới hướng tới mục tiêu giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế theo hướng nhanh, bền vững, gắn với nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Nam A Bank tiên phong triển khai Trạm Công dân số– bước đi đột phá trong hành trình chuyển đổi số phục vụ cộng đồng

Ngày 24/4, Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank) phối hợp cùng Bộ Công an, Công an TP.HCM, UBND các phường tại TP.HCM và đối tác GoTrust khánh thành Trạm Công dân số tại điểm giao dịch số Onebank Celadon và Khu đô thị CityLand Park Hills. Đây là mô hình tiên phong kết hợp giữa dịch vụ công trực tuyến, tài chính hiện đại và tiện ích số nhằm xây dựng hệ sinh thái trải nghiệm toàn diện cho người dân.

Vốn ngân hàng: Bệ đỡ DNNN phát huy vai trò đầu tàu

Trong nền kinh tế Việt Nam, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giữ vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực then chốt như hạ tầng, năng lượng và các ngành kinh tế nền tảng. Nhiều dự án quy mô lớn trong các lĩnh vực này đang được triển khai, góp phần tạo động lực cho tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.

Áp lực lớn, nhưng tỷ giá vẫn trong tầm kiểm soát

Tỷ giá trong năm 2026 được đánh giá sẽ biến động theo hướng tăng nhưng trong tầm kiểm soát, với mức độ phụ thuộc lớn vào diễn biến địa chính trị và chính sách tiền tệ toàn cầu

Đã có 29 ngân hàng giảm lãi suất

Theo NHNN, kể từ sau cuộc họp với Thống đốc vào ngày 9/4, xu hướng giảm lãi suất huy động đã lan rộng trên toàn hệ thống khi có tới 29 ngân hàng thương mại điều chỉnh giảm, nhiều đơn vị hạ sâu và thậm chí giảm nhiều lần chỉ trong thời gian ngắn.

Video