VDSC: VPBank cũng đã giảm mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận và tín dụng 2018

Theo VDSC, do tăng trưởng tín dụng thấp trong 9 tháng đầu năm, VPBank đã giảm mục tiêu tăng trưởng, dự kiến dư nợ cho vay của ngân hàng mẹ và FE Credit sẽ tăng trưởng lần lượt là 15% và 10% và LNTT tương ứng đạt 9.234 tỷ đồng (tăng 14%).

9 tháng đầu năm 2018, lợi nhuận trước thuế (LNTT) hợp nhất của VPBank đạt 6,13 ngàn tỷ đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ và hoàn thành 57% kế hoạch năm.

Nhóm phân tích của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) trong một báo cáo mới đây lưu ý rằng, so với các năm trước, công ty con FE Credit tăng trưởng chậm hơn và đóng góp thấp hơn vào thu nhập hợp nhất của VPBank. Ngoài ra, tăng trưởng cho vay tiêu dùng chậm hơn nhưng nợ xấu cũng có xu hướng tăng mạnh. Do tăng trưởng tín dụng thấp trong 9 tháng đầu năm, VPBank đã giảm mục tiêu tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận cho cả ngân hàng mẹ và FE Credit.

Tăng trưởng cho vay tiêu dùng chậm hơn do cạnh tranh gia tăng

Cuối quý 3/2018, dư nợ cho vay khách hàng hợp nhất tăng 9,5% so với đầu năm, thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng cùng kỳ năm ngoái. Tăng trưởng tín dụng của ngân hàng mẹ vẫn đạt mức 11,3% (cùng kỳ là 12,4%) trong khi tăng trưởng cho vay khách hàng của FE Credit chỉ đạt 4,2% (cùng kỳ năm 2017 đạt tới 28,3%).

[caption id="attachment_114740" align="aligncenter" width="640"] Dư nợ cho vay khách hàng của ngân hàng mẹ và Fe Credit cuối quý 3/2018, đơn vị: tỷ đồng, Nguồn: BCTC của VPB, CTCK Rồng Việt[/caption]

Do sự sụt giảm của tăng trưởng cho vay tiêu dùng trong quý 3, NIM của VPBank đã giảm gần 40 điểm cơ bản. VDSC cho rằng, mặc dù NIM có thể tăng nhẹ trong quý 4 nhưng trong dài hạn sẽ bị thu hẹp do sự cạnh tranh trong mảng tài chính tiêu dùng, đặc biệt là cho vay tiền mặt, đang ngày càng gia tăng với sự tham gia của nhiều công ty tài chính tiêu dùng mới.

Nợ xấu tăng mạnh

Đáng lưu ý trong kết quả kinh doanh của VPBank từ đầu năm đến nay là xu hướng tăng mạnh của nợ xấu. Nợ xấu hợp nhất đã tăng mạnh từ 3,4% vào cuối năm 2017 lên mức 4,7% vào cuối quý 3, tăng nhanh ở cả ngân hàng mẹ và FE Credit.

Đối với FE Credit, tỷ lệ nợ xấu tăng từ 5,0% cuối năm 2017 lên mức 6,4% vào cuối quý 3/2018. Nợ nhóm 2 và nợ nhóm 3 tăng tương ứng 24% và 60% (cùng kỳ năm ngoái lần lượt là 19,6% và 2,7%). Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng mẹ là 4,2% vào cuối quý 3/2018 ( quý 3/2017 là 2,6%). Ngân hàng cho biết tỷ lệ nợ xấu cao đến từ nguyên nhân điều chỉnh phân loại nợ theo phân loại nợ của CIC, dẫn đến nợ xấu tăng hơn 12% trong 9 tháng đầu năm và giải ngân khoản vay mới thấp.

[caption id="attachment_114741" align="aligncenter" width="640"] Tỷ lệ nợ xấu (NPL, trục trái) và tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu (LLR, trục phải) của ngân hàng mẹ và FE CREDIT, nguồn: BCTC của VPBank, CTCK Rồng Việt[/caption]

Bên cạnh đó, VDSC cho rằng một lý do khác là sự tăng trưởng mạnh của dư nợ không tài sản đảm bảo khi mà CommCredit (cung cấp các khoản vay không có đảm bảo cho hộ gia đình và tiểu thương). Trong 9 tháng đầu năm, dư nợ của CommCredit tăng trưởng hơn 15%, nhanh hơn mức tăng trưởng dư nợ của toàn ngân hàng (9,5%), và chiếm gần 17% tổng dư nợ.

"Chúng tôi cho rằng tăng trưởng cao của nợ vay không tài sản đảm bảo góp phần khiến tỷ lệ nợ xấu cao hơn ở ngân hàng mẹ", VDSC nhận định.

Do tăng trưởng tín dụng thấp trong 9 tháng đầu năm, VPBank đã giảm mục tiêu tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận cho cả ngân hàng mẹ và FE Credit. Theo kịch bản cơ sở, VPBank dự kiến dư nợ cho vay của ngân hàng mẹ và FE Credit sẽ tăng trưởng lần lượt là 15% và 10% và LNTT tương ứng đạt 9.234 tỷ đồng (tăng 14%).

Tuy nhiên, VDSC kỳ vọng tăng trưởng tín dụng của ngân hàng mẹ có thể đạt 17%, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cao điểm trong quý cuối năm của nền kinh tế. Nền tảng vốn mạnh sẽ là yếu tố giúp VPBank được duyệt tăng trưởng tín dụng cao hơn hạn mức 15% hiện tại. Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng của FE Credit sẽ ở mức 10%, chủ yếu do cạnh tranh cao trong phân khúc cho vay tiêu dùng. Do đó, lợi nhuận trước thuế của VPBank có thể đạt 9.421 tỷ đồng (tăng 16% so với năm 2017) và EPS dự phóng là 2.342 đồng.

Theo Trí thức trẻ

Tags:

Năm 2025, tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai tăng 15,92%

Số liệu chính thức về hoạt động tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai cho thấy, kết thúc năm 2025, tín dụng khu vực này đạt 5.806,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,92% so với năm 2024, phản ánh tốc độ tăng trưởng cao gắn liền với kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội khu vực cũng như cơ chế chính sách, điều hành chính sách tiền tệ tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Làm tốt hoạt động ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Mở rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng đối với khu công nghiệp, khu chế xuất không chỉ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, mà còn tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng các hoạt động dịch vụ ngân hàng.

Nam A Bank tiên phong khởi xướng cộng đồng tài chính xanh – Đòn bẩy của Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM

Tại Hội thảo “Thúc đẩy tài chính xanh và sàn giao dịch tín chỉ carbon trong trung tâm tài chính quốc tế”, Nam A Bank đã tiên phong đề xuất thành lập Cộng đồng Tài chính xanh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm xây dựng hệ sinh thái bền vững, đồng hành cùng Trung tâm Tài chính Quốc tế TP.HCM (VIFC) hiện thực hóa mục tiêu Net Zero 2050, thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam.

Nam A Bank tăng trưởng quy mô vượt trội trong năm 2025, chất lượng tài sản được cải thiện đáng kể

Kết thúc năm 2025, Ngân hàng TMCP Nam Á (HOSE: NAB) ghi nhận kết quả kinh doanh với các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đạt 18,2%, tổng tài sản tiệm cận mốc 420.000 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng duy trì ở mức thấp 2,15% (1,93% trước CIC); tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng mạnh lên mức hơn 54%.

NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% năm 2026, yêu cầu kiểm soát chặt vào lĩnh vực rủi ro

Bám sát Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách kinh tế vĩ mô khác góp phần ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thực hiện tái cơ cấu các ngân hàng chuyển giao bắt buộc, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Video