Trung Quốc tăng nhập khẩu sắn lát từ Việt Nam

10 tháng năm 2023, thị phần sắn lát của Việt Nam trong tổng nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc tăng so với cùng kỳ năm 2022.

Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) dẫn số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết, tháng 11/2023, Việt Nam xuất khẩu 268,91 nghìn tấn sắn và các sản phẩm từ sắn, trị giá 134,77 triệu USD. Lũy kế 11 tháng năm 2023, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn đạt trên 2,66 triệu tấn, trị giá 1,16 tỷ USD, giảm 6,8% về lượng và giảm 7,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022.

Trung Quốc tăng nhập khẩu sắn lát từ Việt Nam

Trong tháng 11/2023, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn lớn nhất của Việt Nam, chiếm 92,09% về lượng và chiếm 92,59% về trị giá trong tổng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của cả nước, đạt 247,64 nghìn tấn, trị giá 124,78 triệu USD, tăng 2,5% về lượng, nhưng giảm 0,1% về trị giá tháng 10/2023; So với tháng 11/2022 giảm 10,6% về lượng, nhưng tăng 6,8% về trị giá.

Giá xuất khẩu bình quân sắn và các sản phẩm từ sắn sang Trung Quốc ở mức 503,9 USD/tấn, giảm 2,5% so với tháng 10/2023, nhưng tăng 19,5% so với tháng 11/2022. Lũy kế 11 tháng năm 2023, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 2,43 triệu tấn sắn và các sản phẩm từ sắn, trị giá 1,05 tỷ USD, giảm 6,7% về lượng và giảm 7,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022.

Theo số liệu thống kê của Cơ quan Hải quan Trung Quốc, tháng 10/2023, Trung Quốc nhập khẩu 233,76 nghìn tấn sắn lát (HS 07141020), với trị giá 66,92 triệu USD, giảm 7,9% về lượng và giảm 10,2% về trị giá so với tháng 10/2022. Thái Lan, Việt Nam, Lào là 3 thị trường cung cấp sắn lát cho Trung Quốc.

Tính chung 10 tháng năm 2023, Trung Quốc nhập khẩu gần 5,35 triệu tấn sắn lát, với trị giá 1,47 tỷ USD, giảm 17,1% về lượng và giảm 20,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022. Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia và Nigeria là 5 thị trường cung cấp sắn lát cho Trung Quốc.

Đáng chú ý, lượng sắn lát nhập khẩu của Trung Quốc từ Việt Nam, Campuchia và Nigeria tăng. Trong khi nhập khẩu từ Thái Lan và Lào sụt giảm so với cùng kỳ năm 2022.

Trong 10 tháng năm 2023, Việt Nam là thị trường cung cấp sắn lát lớn thứ hai cho Trung Quốc với 667,15 nghìn tấn, trị giá 183,01 triệu USD, tăng 28,9% về lượng và tăng 19,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022. Thị phần sắn lát của Việt Nam chiếm 12,47% về lượng và chiếm 12,38% về trị giá trong tổng nhập khẩu sắn lát của Trung Quốc, cao hơn so với cùng kỳ năm 2022.

Tháng 10/2023, Trung Quốc nhập khẩu 308,07 nghìn tấn tinh bột sắn (HS 11081400), trị giá 169,14 triệu USD, tăng 10,8% về lượng và tăng 19,4% về trị giá so với tháng 10/2022. Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, Lào, Campuchia là các thị trường cung cấp tinh bột sắn cho Trung Quốc. Trừ Lào, nhập khẩu tinh bột sắn từ các thị trường này đều tăng khá so với tháng 10/2022.

Tính chung 10 tháng năm 2023, Trung Quốc nhập khẩu 2,54 triệu tấn tinh bột sắn, trị giá 1,28 tỷ USD, giảm 26,8% về lượng và giảm 29,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022, chủ yếu được nhập khẩu từ Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia và Indonesia.

Trong 10 tháng năm 2023, Việt Nam là thị trường lớn thứ 2 cung cấp tinh bột sắn cho Trung Quốc, với 795,99 nghìn tấn, trị giá 386,03 triệu USD, giảm 39,2% về lượng và giảm 42% về trị giá so với cùng kỳ năm 2022. Thị phần tinh bột sắn của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc chiếm 31,28% về lượng và chiếm 30,06% về trị giá, thấp hơn so với 10 tháng năm 2022.

Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh nhập khẩu tinh bột sắn từ Lào và Indonesia so với cùng kỳ năm 2022. Thị phần tinh bột sắn của Lào chiếm 6,78% về lượng và chiếm 5,91% về trị giá trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc, tăng so với 10 tháng năm 2022; Trong khi thị phần tinh bột sắn của Indonesia chiếm 2,95% về lượng và chiếm 2,99% về trị giá trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc, tăng so với 10 tháng năm 2022.

Qua số liệu cho thấy, trong 10 tháng năm 2023 Trung Quốc có xu hướng giảm nhập khẩu tinh bột sắn từ Việt Nam, Thái Lan và Campuchia, trong khi tăng nhập khẩu từ Lào và Indonesia. Tại thị trường Trung Quốc, sắn và tinh bột sắn của Việt Nam đang bị cạnh tranh mạnh với sắn và tinh bột sắn của Thái Lan, Indonesia, Lào và Campuchia.

Theo Công Thương

Ngành tôm hùm hướng đến giải pháp bền vững, gia tăng giá trị

Tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng trong năm 2026 đang khẳng định vị thế của tôm hùm trong nhóm mặt hàng thủy sản có hiệu quả kinh tế cao của Việt Nam. Tuy nhiên, để chuyển dịch từ tăng trưởng theo sản lượng sang phát triển bền vững, việc tháo gỡ các điểm nghẽn về con giống, quy hoạch vùng nuôi và thị trường tiêu thụ được coi là điều kiện tiên quyết.

MỤC TIÊU XUẤT KHẨU NÔNG SẢN 100 TỶ USD: Nhận diện những 'nút thắt' để xuất khẩu thủy sản về đích

Mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam lên khoảng 95-100 tỷ USD vào năm 2030 là mục tiêu lớn nhưng có cơ sở, nhất là khi mỗi ngành hàng đều nỗ lực vươn lên, đóng góp vào mục tiêu này. Phóng viên Báo Điện tử Chính phủ đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) về những vướng mắc nội tại và các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 6 tháng cuối năm 2026 và vươn lên trên "chặng đường 100 tỷ USD".

Chuyển mình đưa ngành dừa đạt mốc 2 tỷ USD

Giữa biến động của thị trường nông sản năm 2026, ngành dừa Việt Nam đang trải qua những thay đổi toàn diện. Chuyển từ tư duy bán thô sang định danh bằng dữ liệu số, chuẩn hóa nguyên liệu và thắt chặt liên kết chuỗi, trái dừa không chỉ tự tin vượt mốc 1,1 tỷ USD xuất khẩu trong năm nay mà còn tạo nền tảng vững chắc hướng tới mục tiêu 2 tỷ USD.

Công nghệ chế biến sâu: Lối thoát cho bài toán giá trị nông sản Việt

Nhiều năm qua, ngành nông nghiệp Việt Nam rơi vào cái bẫy sản lượng khi nguồn cung dồi dào nhưng giá trị thu về chẳng được bao nhiêu. Trong bối cảnh chi phí sản xuất gia tăng, việc dồn lực đầu tư vào công nghệ và chế biến sâu không còn là một lựa chọn mở, mà đã trở thành mệnh lệnh sống còn để tái cấu trúc toàn bộ ngành hàng.

Tín dụng/GDP của Việt Nam 'phình' lên 155%, cao gấp 3 lần nhóm cùng hạng

Fitch Ratings đánh giá Việt Nam đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao và có nền tảng tài khóa tương đối vững, song quy mô tín dụng quá lớn, dự trữ ngoại hối mỏng, phụ thuộc vào khu vực FDI và những rủi ro thương mại với Mỹ vẫn là các điểm nghẽn khiến Việt Nam chưa thể vượt khỏi mức xếp hạng BB+.

Video