Thị trường tín dụng đưa mức lãi suất về 5%: Mục tiêu… khó khả thi

Mục tiêu giảm hoặc tiết chế lãi suất dài hạn xuống 5% và những mục tiêu khác trong điều hành chính sách tiền tệ, kế hoạch phát triển kinh tế bền vững thật “khó khả thi” trong thời điểm này.

[caption id="attachment_32149" align="aligncenter" width="588"]Thị trường tín dụng Việt Nam với mức lãi suất 5% như các nền kinh tế đang phát triển khác là một mục tiêu đang được nhắc đến và kỳ vọng nhất trong quá trình tái cơ cấu lần này Thị trường tín dụng Việt Nam với mức lãi suất 5% như các nền kinh tế đang phát triển khác là một mục tiêu đang được nhắc đến và kỳ vọng nhất trong quá trình tái cơ cấu lần này[/caption]

“Leo dốc, vác nặng”

Theo Dự thảo đề án tái cơ cấu kinh tế 2016-2020, mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là duy trì ổn định lạm phát và neo kỳ vọng lạm phát ở mức 5%/năm; giảm thâm hụt ngân sách Nhà nước xuống 3,5-4% GDP; giảm nợ công xuống mức dưới 62% GDP; và củng cố dự trữ ngoại hối lên khoảng 5 tháng nhập khẩu.

Như vậy, với 4 mục tiêu cụ thể cộng hưởng nêu trên và với những hiện trạng và hệ quả lớn đang tồn đọng trong hệ thống ngân hàng và những cái “túi thủng” của nhiều DNNN từ năm 2007 đến nay, thì e rằng để đạt được mục tiêu lãi suất từ 10% về mức 5% sẽ là một cuộc leo dốc 15 độ nghiêng với 80 kg trên lưng – khó khả thi.

Giải pháp từ thực tế

Để tăng tính khả thi của mục tiêu, theo tôi, Chính phủ đã đối diện nhưng chưa thật sự chấp nhận – đó là các khoản nợ xấu đã được biết và đặc biệt là những khoản nợ xấu còn đâu đó chưa được ghi nhận bên trong và ngoài hệ thống ngân hàng. Kế tiếp, nên chấm dứt giải pháp mua nợ 0 đồng và không hao tổn ngân sách và đồng thời nhanh chóng đưa những khoản nợ này về với giá trị thật của nó. Nếu Chính phủ không thực hiện được các vấn đề đó thì dù có ép chế thì hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính hiện nội địa hiện nay tự nó không thể gánh vác cái mục tiêu đó.

Nói một cách khác, không còn lựa chọn nào khác, cuối cùng thì chúng ta phải sửa chữa bảng cân đối nền kinh tế quốc gia và cũng phải đồng thời sửa chữa các bản cân đối của các ngân hàng trong hệ thống.

Về tỷ trọng cho vay ngắn hạn của các Ngân hàng quốc doanh hoặc ngân hàng cổ phần nhưng nhà nước sở hữu đa số sự bất cân xứng này của hai nhóm ngân hàng cho thấy đó là điều bất cập đáng tiếc trong thị trường tín dụng ở nghĩa hẹp và nền kinh tế ở nghĩa rộng. Các Ngân hàng lớn với lợi thế nguồn vốn dồi dào và rẻ hơn thì đáng ra phải phân bổ cho trung dài hạn nhiều hơn nhưng ở đây thì ngược lại.

Một thời gian dài và các cơ quan quản lý và giám sát đã lơ là cho phép các cổ đông lớn chi phối và những “nhóm lợi ích” của họ đã xào nấu nguồn vốn ngắn hạn và hạn hẹp huy động được của ngân hàng. Thiết nghĩ đây mới chính là gốc góp phần vào sự bất cân xứng và bất cập như hiện nay của hệ thống. Đặc biệt vụ việc của Ngân hàng Xây dựng cho thấy rõ điều này.

Ông Phạm Ngọc Hưng – Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội DN TP HCM:DN chưa đặt niềm tin vào sự ổn định lãi suất trong dài hạn

pham-ngoc-hungLãi suất hiện nay các ngân hàng vẫn đang áp dụng theo từng nhóm DN. DN khỏe, lớn, lãi suất thấp. DN nhỏ, kế hoạch kinh doanh chưa triển vọng rõ rang thì ngân hàng rất ngại cho vay. Theo ghi nhận của chúng tôi, bản thân các ngân hàng hiện cũng đang rất e ngại, thận trọng cho vay, nhất là với nhóm DN có mức độ rủi ro cao. Nói về lãi suất cho vay, thực tế chỉ mang tính tương đối, nếu nhìn về dài hạn, cần xem xét trong các quốc gia trong khu vực xem mức lãi suất áp dụng cho DN có đủ sức giúp DN cạnh tranh không. Và cũng tùy từng thời điểm, tùy thuộc nhu cầu từng DN mà DN chấp nhận mức độ lãi suất khác nhau. Có những thời gian nếu DN ráo riết cần vốn bổ sung vốn lưu động hoặc cho một dự án cần ngay tiếp vốn, thì dù mức lãi suất cao hơn so với mặt bằng, họ vẫn chấp nhận vay. Nhìn chung, có một điểm khá nghịch lý trong tín dụng cho DN là hiện nay do niềm tin vào sự ổn định lãi suất trong dài hạn vẫn còn rất mỏng, bấp bênh, mà sâu xa là niềm tin vào đồng bản tệ chưa vững vàng, khiến lãi suất cho vay trong trung và dài hạn đang bắt DN chịu mức lãi suất cao, còn lãi suất ngắn hạn thì thấp hơn. Điều này ngược lại với các quốc gia luôn có chính sách lãi suất với định hướng hỗ trợ DN vay đầu tư dài hạn.

Theo Lê Trọng Nhi Chuyên gia Ngân hàng/DĐDN

Tags:

Khi ngân hàng nghỉ Tết, khách hàng cần lưu ý gì?

Những ngày cận Tết, nhu cầu giao dịch ngân hàng của người dân và doanh nghiệp thường tăng cao, từ rút tiền mặt, chuyển khoản, chi trả lương thưởng đến tất toán tiết kiệm, thanh toán các khoản vay và thẻ tín dụng. Năm nay, theo thông báo của nhiều ngân hàng thương mại, hệ thống sẽ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 trong 9 ngày, từ 14/2/2026 đến hết 22/2/2026, và làm việc trở lại từ 23/2/2026.

Nam A Bank xác lập vị thế thành viên chiến lược tại VIFC – HCMC qua ba hợp tác chiến lược

Ngay sau khi chính thức trở thành nhà đầu tư chiến lược của Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC - HCMC), Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank - HOSE: NAB) đã triển khai ký kết hàng loạt thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm triển khai các giải pháp thiết thực, cụ thể hóa vai trò và cam kết của mình trong tiến trình xây dựng một trung tâm tài chính xanh, hiện đại và hội nhập.

Nam A Bank chung tay cùng kiều bào phát triển đất nước thịnh vượng, hạnh phúc

Trong dòng chảy hội nhập toàn cầu, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Thông qua chuỗi hoạt động văn hóa – kết nối – hợp tác trong khuôn khổ Xuân Quê Hương 2026, Nam A Bank cùng các đối tác đã khẳng định vai trò cầu nối kiều bào, chung tay khơi dậy khát vọng cống hiến và kiến tạo một Việt Nam vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.

Chợ Tết và những sáng tạo trong sản phẩm, dịch vụ ngân hàng

Nhìn ở góc độ mua bán trao đổi và thanh toán tại các chợ truyền thống cũng như siêu thị và trung tâm mua sắm dịp Tết, chúng ta cảm nhận nhiều sự khác biệt trong thanh toán, chi trả của người dân – được mang lại bởi các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của thời đại số.

Ngân hàng đa dạng giải pháp hỗ trợ SME

Theo WB, đến năm 2030, Việt Nam được dự báo có khoảng 2,4 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Với vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế, khu vực SME đang trở thành phân khúc trọng tâm trong chiến lược tăng trưởng tín dụng của nhiều ngân hàng thương mại.

Video