NHNN: Tăng lãi suất huy động chỉ mang tính chất tạm thời

Việc tăng lãi suất huy động không phải xu hướng chung mà chủ yếu mang tính chất tạm thời để dự trù nguồn vốn cho vay ở một số đơn vị, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh những tháng sau Tết.

[caption id="attachment_14311" align="aligncenter" width="600"]Việc tăng lãi suất huy động không phải xu hướng chung mà chủ yếu mang tính chất tạm thời (Ảnh minh họa) Việc tăng lãi suất huy động không phải xu hướng chung mà chủ yếu mang tính chất tạm thời (Ảnh minh họa)[/caption]

Ông Bùi Quốc Dũng, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước cho biết như vậy trong thông báo được Ngân hàng Nhà nước phát đi chiều 11.3.

Thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy, 2 tháng đầu năm 2016, 15 ngân hàng tăng lãi suất với mức tăng bình quân từ 0,1 - 0,2%/năm. Trong khi đó, có 6 ngân hàng lại giảm, bình quân từ 0,1 - 0,3%/năm. Vì vậy, mức lãi suất huy động hiện tại vẫn cơ bản ổn định so với cuối năm 2015. Mặt bằng bình quân kỳ hạn dưới 6 tháng từ 4,5 - 5,4%/năm, còn kỳ hạn 6 tháng trở lên từ 5,5 - 7,2%/năm.

Như vậy, NHNN cho rằng việc tăng lãi suất huy động không phải xu hướng chung mà chủ yếu mang tính chất tạm thời để dự trù nguồn vốn cho vay ở một số đơn vị, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh những tháng sau Tết.

Về cơ bản, việc tăng lãi suất của các ngân hàng này không phải xu hướng chung của toàn thị trường vì trên thực tế, cũng có nhiều ngân hàng thực hiện giảm lãi suất huy động. Khi cầu tín dụng tăng hầu hết đều xuất hiện tâm lý dự trữ nguồn vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh. Còn việc trên thị trường xuất hiện một số món gửi ở mức 8%/năm thì mục đích chỉ là để gây chú ý và quảng bá.

Trong khi đó, NHNN cho rằng không có áp lực vượt trần lãi suất huy động USD bằng mọi giá khi hiện tượng tăng lãi suất huy động VND không chỉ ở các kỳ hạn dài mà còn áp dụng cho các kỳ hạn dưới 6 tháng xuất hiện ở một số ngân hàng thương mại, thậm chí có nơi còn trả khoản chênh lãi suất cho khách gửi USD.

Cụ thể, số liệu thống kê cho thấy, tính đến cuối tháng 2.2016, huy động vốn bằng ngoại tệ giảm gần 4%, còn tín dụng ngoại tệ giảm 5,6% so với cuối năm 2015. Mặc dù vậy, NHNN cũng đề nghị các cơ quan báo chí, tổ chức, cá nhân nếu nắm bắt được các trường hợp vi phạm thì chủ động cung cấp thông tin, tài liệu liên quan. NHNN khẳng định sẽ kiểm tra, xác minh và xử lý theo thẩm quyền.

Nói về việc thị trường xuất hiện tâm lý dự phòng rằng mục tiêu giảm lãi suất để hỗ trợ sản xuất kinh doanh khó thực hiện, ông Dũng đánh giá do nhiều yếu tố vĩ mô.

Đơn cử, lạm phát năm nay dự kiến 3% - 4%, trong khi năm 2015 lạm phát là 0,6%. Như vậy, kỳ vọng lạm phát cao hơn năm trước. Chưa kể, dự kiến tăng trưởng kinh tế năm 2016 là 6,7%, cao hơn mức tăng trưởng thực 6,6% của năm 2015. Quan sát 5 năm gần đây, GDP năm sau luôn cao hơn năm trước, điều này sẽ dồn tích thêm nhu cầu vốn.

Trong khi cầu vốn tăng nhưng tiền tiết kiệm giảm. Năm 2015, số tuyệt đối giữa huy động và cho vay đề cân bằng nhưng tốc độ tăng trưởng của tín dụng lớn hơn tốc độ tăng trưởng huy động (trên 17% so với trên 14%).

Ngoài ra, yếu tố lợi suất trái phiếu Chính phủ cũng tác động khá mạnh lên mặt bằng lãi suất. Ngân sách năm 2016 tiếp tục khó khăn do giá dầu thô giảm (khoảng 50% so với dự toán) nên nhu cầu huy động trái phiếu để bù đắp bội chi tiếp tục lớn ở mức 220.000 tỉ đồng, cao hơn 2015. Yếu tố này sẽ tác động lên lợi suất trái phiếu Chính phủ và tác động dây chuyền tới lãi suất trung dài hạn.

Ba yếu tố nói trên sẽ tác động yếu tố tâm lý, khiến các ngân hàng tăng dự trữ nguồn.

“Mặc dù hiện tại chưa có gì căng thẳng nhưng chúng lại nuôi dưỡng kỳ vọng của các tổ chức tín dụng, tạo nên phản ứng của thị trường như đã thấy”, ông Dũng nhận định.

Được biết, hiện tại lãi cho vay đang ở mức ổn định. Kỳ hạn ngắn phổ biến 6 - 9%/năm, trung và dài hạn 9 - 12%/năm. Phân khúc khách hàng tốt, các ngân hàng áp dụng 5 - 6%/năm. Tính bình quân lãi suất cho vay là 8,85%/năm, ổn định so với cuối năm 2015 và giảm đáng kể so với mức bình quân 10,3%/năm của năm 2014, 12%/năm của năm 2013 và 15%/năm của năm 2012…

Theo Một thế giới

Tags:

Nam A Bank xác lập vị thế thành viên chiến lược tại VIFC – HCMC qua ba hợp tác chiến lược

Ngay sau khi chính thức trở thành nhà đầu tư chiến lược của Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC - HCMC), Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank - HOSE: NAB) đã triển khai ký kết hàng loạt thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm triển khai các giải pháp thiết thực, cụ thể hóa vai trò và cam kết của mình trong tiến trình xây dựng một trung tâm tài chính xanh, hiện đại và hội nhập.

Nam A Bank chung tay cùng kiều bào phát triển đất nước thịnh vượng, hạnh phúc

Trong dòng chảy hội nhập toàn cầu, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Thông qua chuỗi hoạt động văn hóa – kết nối – hợp tác trong khuôn khổ Xuân Quê Hương 2026, Nam A Bank cùng các đối tác đã khẳng định vai trò cầu nối kiều bào, chung tay khơi dậy khát vọng cống hiến và kiến tạo một Việt Nam vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.

Chợ Tết và những sáng tạo trong sản phẩm, dịch vụ ngân hàng

Nhìn ở góc độ mua bán trao đổi và thanh toán tại các chợ truyền thống cũng như siêu thị và trung tâm mua sắm dịp Tết, chúng ta cảm nhận nhiều sự khác biệt trong thanh toán, chi trả của người dân – được mang lại bởi các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của thời đại số.

Ngân hàng đa dạng giải pháp hỗ trợ SME

Theo WB, đến năm 2030, Việt Nam được dự báo có khoảng 2,4 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Với vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế, khu vực SME đang trở thành phân khúc trọng tâm trong chiến lược tăng trưởng tín dụng của nhiều ngân hàng thương mại.

Tạo dư địa phát triển cho thuê tài chính

Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV, đang có nhu cầu lớn về nguồn vốn trung, dài hạn để đầu tư máy móc, thiết bị, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất, trong khi khả năng cân đối vốn tự có còn hạn chế.

Năm 2025, tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai tăng 15,92%

Số liệu chính thức về hoạt động tín dụng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai cho thấy, kết thúc năm 2025, tín dụng khu vực này đạt 5.806,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,92% so với năm 2024, phản ánh tốc độ tăng trưởng cao gắn liền với kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội khu vực cũng như cơ chế chính sách, điều hành chính sách tiền tệ tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Video