Mua theo giá thị trường có xử lý được nợ xấu?

Thống đốc NHNN thể hiện quyết tâm giảm nợ xấu trong hệ thống tín dụng bằng việc phê duyệt và triển khai phương án mua nợ xấu theo giá thị trường.

[caption id="attachment_20545" align="aligncenter" width="660"]Thống đốc NHNN thể hiện quyết tâm giảm nợ xấu trong hệ thống tín dụng. (Ảnh minh họa: Internet) Thống đốc NHNN thể hiện quyết tâm giảm nợ xấu trong hệ thống tín dụng. (Ảnh minh họa: Internet)[/caption]

Tính tới cuối năm 2015, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng đã giảm về dưới 3%, còn 2,5%. Song, trên thực tế, quá trình xử lý nợ xấu còn khá chậm chạp. Chính vì vậy, vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng thể hiện quyết tâm giảm nợ xấu trong hệ thống tín dụng thông qua việc phê duyệt và triển khai phương án mua nợ xấu theo giá thị trường. Đây được cho là động thái gỡ khó cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, các giải pháp xử lý nợ xấu đã phát huy tác dụng (đặc biệt là thông qua Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam - VAMC) góp phần quan trọng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ.

Đến hết năm 2015, nợ xấu toàn hệ thống đã được đưa về mức 2,5%, hoàn thành mục tiêu đề ra giảm nợ xấu về dưới 3%. Mặc dù diễn biến nợ xấu đang trong xu hướng giảm tích cực, nhưng về bản chất, VAMC trở thành “nhà kho” để lưu giữ các khoản nợ này. Số nợ chỉ chuyển từ sổ sách của các tổ chức tín dụng sang sổ sách của VAMC.

Trong giai đoạn 2013-2015, VAMC đã “thu gom” được 245 nghìn tỷ đồng nợ xấu từ hơn 40 tổ chức tín dụng. Và đến nay, mới có hơn 22,78 nghìn tỷ đồng trong “tổng kho” nợ xấu “hồi sinh”, còn hơn 90% các khoản nợ vẫn đang yên vị trong “kho nợ xấu” của VAMC.

Ông Nguyễn Quốc Hùng, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam VAMC cho biết, mua nợ xấu theo giá thị trường thì Nghị định 34 sửa đổi, bổ sung đã cho phép VAMC được phát hành trái phiếu để mua nợ xấu theo giá thị trường. Đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của VAMC trong thời gian tới.

Tuy nhiên, theo ông Hùng, để triển khai mua nợ xấu ra thị trường còn rất nhiều những vấn đề kèm theo liên quan đến tính pháp lý, xử lý như thế nào những khoản nợ xấu dưới giá ra làm sao và bên cạnh đó phải có thị trường mua bán nợ. Hiện nay trên thị trường chỉ có mỗi DATC, VAMC và các tổ chức tín dụng, như vậy người tham gia vào mua bán nợ cũng không có nhiều ngoài các tổ chức tín dụng, vì vậy nên việc xử lý, bán lại các khoản nợ đó rất khó khăn.

Việc Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Quyết định 618 về việc xây dựng và triển khai hương án mua nợ xấu theo giá trị thị trường, được các chuyên gia ngân hàng đánh giá là có khả năng tạo nên đột phá trong tiến trình xử lý nợ xấu so với cách mua bán nợ cũ.

Theo ông Trương Thanh Đức, Ban Pháp chế, Hiệp hội Ngân hàng, điểm mấu chốt để thực hiện được điều này là khả năng thu hồi nợ từ việc thanh lý tài sản. VAMC sẽ phải thẩm định giá tài sản đảm bảo, từ đó, đàm phán với ngân hàng một giá mua thỏa thuận. Với cách mua bán này, ngân hàng sẽ bán đứt món nợ cho VAMC, sau đó, VAMC có thể thanh lý tài sản để thu hồi số tiền đã bỏ ra hay tiếp tục bán món nợ này cho nhà đầu tư mới. VAMC cũng có thể giúp con nợ phục hồi khả năng tài chính qua việc chuyển đổi món nợ này thành cổ phần hay tái cơ cấu.

Ông Trương Thanh Đức cho rằng: “Nếu thực hiện được việc này thì sẽ giải quyết được thực chất khoản nào mua được bao nhiêu, khoản nào bán được bao nhiêu thì mới xử lý được thật. Quan trọng nhất là phải tạo ra được thị trường, phải tạo điều kiện thông thoáng để cho tất cả các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư sẵn sàng tích cực tham gia vào. Còn theo dự thảo bây giờ đưa ra vốn pháp định, các tiêu chuẩn rất cao như là 10 tỷ, 100 tỷ, 1000 tỷ mới được tham gia việc mua bán nợ thì tôi nghĩ rằng gần như không ai dám làm việc đấy ngoài cơ quan mua bán nợ chuyên trách của nhà nước.”

Quyết định 618 cho phép VAMC được phối hợp với các nhà đầu tư nước ngoài để thu hút nguồn vốn và kinh nghiệm định giá, xử lý các khoản nợ xấu mua theo giá thị trường. Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế cho rằng, nhà đầu tư nước ngoài có mặn mà với điểm “đột phá” này hay không lại là chuyện khác, nếu họ vẫn thấy chưa có thị trường mua bán nợ minh bạch và hiệu quả ở Việt Nam để cho các khoản nợ mua về có thể bán ra dễ dàng và có lãi.

Ông Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính cho rằng, với cơ chế mới, thỏa thuận mua bán nợ xấu có thể sẽ nhiều hơn, nhưng với mức giá thấp hơn, chiết khấu cao hơn, mua bán theo thị trường hơn thì cũng có thể sẽ nhiều ngân hàng không muốn bán, trong khi người mua không muốn mua do rủi ro phải bỏ ra vốn thật.

Về lý thuyết, ông Độ phân tích: “Khi cho mua nợ xấu theo cơ chế thị trường sẽ giúp cho tăng khả năng mua bán nợ xấu, giải quyết nợ xấu. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vật cản, thứ nhất là vấn đề pháp lý, có rất nhiều tài sản rất khó có thể thanh lý, chuyển đổi sở hữu. Một điểm nữa là việc xác định giá cả của khoản nợ xấu đó cũng không dễ dàng, bởi vì nếu mua bán theo giá thị trường thì về mặt lý thuyết hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp mua với giá tương đối cao nhưng sau đó lại không bán được với giá như thế.”

Kinh nghiệm ở các quốc gia cho thấy xử lý nợ xấu luôn là công việc không dễ dàng. Ngay cả những nước có nền kinh tế phát triển, có thị trường tài chính năng động, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, minh bạch việc xử lý nợ xấu cũng rất khó khăn. Đối với Việt Nam, việc xử lý nợ xấu chắc chắn sẽ khó khăn hơn khi mọi điều kiện cơ bản để xử lý nợ xấu vẫn còn nhiều hạn chế.

Do đó, dù việc mua bán nợ xấu ở Việt Nam khá hấp dẫn nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư nước ngoài, nhưng các chuyên gia cho rằng, sẽ cần một bước tiến dài trong hành lang pháp lý để thực sự xây dựng được một sàn giao dịch cho phép mua, bán nợ; tư vấn, môi giới mua, bán nợ, để hướng tới một thị trường mua bán nợ xấu công khai và minh bạch.

Tags:

Phát triển KHCN&ĐMST, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động ngân hàng

Ngày 18/5 hằng năm là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, góp phần tôn vinh đội ngũ trí thức, khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) trong phát triển đất nước. Đối với ngành Ngân hàng, đây cũng là động lực thúc đẩy chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động và xây dựng hệ sinh thái tài chính số lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Ngân hàng số tăng tốc, mở rộng không gian phát triển kinh tế số

Chuyển đổi số đang trở thành một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng của ngành Ngân hàng cũng như nền kinh tế Việt Nam. Nếu như vài năm trước, chuyển đổi số chủ yếu được nhìn nhận như một xu hướng công nghệ, thì đến nay, quá trình này đã bước sang giai đoạn phát triển mới, trở thành nền tảng cốt lõi để tái cấu trúc mô hình hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận tài chính và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

AI tái định hình ngành Ngân hàng: Thu hẹp phòng giao dịch, cắt giảm nhân sự

Từng có thời, độ phủ chi nhánh và phòng giao dịch được xem là biểu tượng sức mạnh của một ngân hàng. Nhà băng nào sở hữu mạng lưới rộng, hiện diện ở nhiều tuyến phố trung tâm, đồng nghĩa với vị thế lớn mạnh và khả năng tiếp cận khách hàng vượt trội. Nhưng chỉ sau vài năm chuyển đổi số bùng nổ, thực tế ấy đang đảo chiều.

Hoàn thiện “lá chắn” an ninh tài chính số

Trong kỷ nguyên AI, cùng với đà tăng tốc chuyển đổi số của ngành ngân hàng, việc xây dựng “lá chắn” an ninh tài chính số và củng cố niềm tin người dùng đang trở thành yêu cầu mang tính chiến lược.

Thị trường vay tiêu dùng khởi sắc nhờ liên kết bán lẻ

Các tổ chức tín dụng phối hợp với hệ thống bán lẻ và nền tảng thương mại điện tử, đặc biệt là sự bùng nổ của các giải pháp "Mua trước trả sau", đang tạo ra diện mạo mới cho thị trường vay tiêu dùng trong những tháng đầu năm 2026.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì thứ hạng cao về Chỉ số cải cách hành chính năm 2025

Chiều ngày 11/5/2026, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã chủ trì phiên họp thứ 3 năm 2026 của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06. Tại Phiên họp, Bộ Nội vụ đã báo cáo và công bố kết quả Chỉ số hài lòng của người dân về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025 (SIPAS 2025), Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (PAR INDEX 2025).

Video