Chủ động tìm hiểu thị trường, tăng cơ hội xuất khẩu thủy sản sang Vương quốc Anh

Đến nay, Hiệp định UKVFTA đang và sẽ là đòn bẩy thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam sang thị trường Anh, trong đó có thủy sản.

Lợi thế xuất khẩu từ UKVFTA

Với thói quen sử dụng các sản phẩm thủy sản ít nhất 1 lần/tuần với lượng trung bình là gần 153 g/người/tuần, Vương quốc Anh được coi là một trong những thị trường ưa chuộng thủy sản, đặc biệt là các sản phẩm cá. Xét về các sản phẩm chế biến, đóng hộp thì cá ngừ là lựa chọn hàng đầu của người tiêu dùng Anh.

Tương tự như các thị trường khác tại khu vực châu Âu, người tiêu dùng tại Vương quốc Anh (UK) cũng có xu hướng chú trọng tới không chỉ nguồn gốc, chất lượng sản phẩm, mà còn quan tâm tới các yêu tố về lao động, môi trường, hay tính bền vững của chuỗi giá trị trong sản xuất, cung ứng sản phẩm. Các yếu tố cơ bản khác như giá cả, cách thức chế biến và tính tương đồng trong bữa ăn, địa điểm sử dụng, cũng vẫn được quan tâm.

Hiệp định UKVFTA đang và sẽ là đòn bẩy thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường Anh (Ảnh: TTXVN)

Thông tin tại ấn phẩm "Phát triển thị trường UK đối với ngành thủy sản", Bộ Công Thương cho biết, thị trường cung cấp thủy sản lớn nhất cho Vương quốc Anh hiện nay là Na Uy với 497 triệu bảng trị giá nhập khẩu trong năm 2021, chiếm 15,6%; 1/4 trị giá nguồn cung thủy sản còn lại đến từ các quốc gia khu vực EU với 794 triệu bảng, tương đương khoảng 965 triệu USD năm 2021. Xu hướng tăng nhập khẩu thủy sản từ các thị trường bên ngoài EU bắt đầu từ khoảng cuối năm 2020, đầu 2021, khi Brexit kết thúc và dịch Covid-19 tác động mạnh, khiến trị giá nhập khẩu thủy sản của quốc gia này từ các thị trường khối EU giảm 58%.

Việt Nam là thị trường xuất khẩu thủy sản vào UK lớn nhất xét ngoài khối EU, với sản phẩm chủ yếu là tôm. Theo Cục Xúc nhập khẩu, Bộ Công Thương, trong năm đầu tiên thực thi Hiệp định UKVFTA (từ tháng 1/2021 đến hết tháng 12/2021), kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Anh đạt hơn 316 triệu USD, chiếm gần 5,5% tổng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này và giảm 8% so với cùng kỳ năm 2020. Anh là thị trường lớn thứ 5 của thủy sản Việt Nam trong năm 2021 tính về thị trường đơn lẻ.

Sang đến năm thứ 2 thực thi Hiệp định, tính đến hết tháng 11 năm 2022, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Vương quốc Anh đã đạt gần 5,63 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2021. Tôm, cá tra, cá ngừ và mực là những mặt hàng thủy sản xuất khẩu chính của Việt Nam tới Anh.

Trong bối cảnh lạm phát tại Anh liên tục tăng, các hộ gia đình phải chống chọi với cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt do chuỗi cung ứng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch Covid-19 cũng như chiến sự Nga - Ukraine. Trước thực tế đó, xu hướng tiêu thụ và nhập khẩu thuỷ sản ở thị trường được dự báo sẽ bị tác động giảm trong thời gian tới và nhu cầu có thể vẫn tập trung nhiều hơn vào phân khúc thuỷ sản giá vừa phải hoặc thấp.

Tuy nhiên, khi người tiêu dùng Anh nghiêng về các sản phẩm thực phẩm giá rẻ hơn, các sản phẩm cá thịt trắng được ưa chuộng, dư địa cho cá tra xuất khẩu sang thị trường này sẽ rộng mở, đặc biệt với lợi thế thuế quan nhập khẩu theo UKVFTA. Tương tự như các thị trường khác tại EU, người tiêu dùng tại Vương quốc Anh cũng có xu hướng chú trọng tới không chỉ nguồn gốc, chất lượng sản phẩm, mà còn quan tâm tới các yêu tố về lao động, môi trường, hay tính bền vững của chuỗi giá trị trong sản xuất, cung ứng sản phẩm. Các yếu tố cơ bản khác như giá cả, cách thức chế biến và tính tương đồng trong bữa ăn, địa điểm sử dụng, cũng vẫn được quan tâm.

Bên cạnh đó, dự báo trong thời gian tới, thị trường thủy sản ở Vương quốc Anh có thể trở nên cạnh tranh hơn do lạm phát cao và tăng trưởng kinh tế thấp. Sức mua giảm cùng với các yêu cầu kỹ thuật ngày càng chặt chẽ của Vương quốc Anh. Bên cạnh đó, các chương trình thúc đẩy xuất khẩu thủy sản trong nước của UK và chương trình đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu của Ireland có thể tăng mức độ cạnh tranh của ngành hàng.

Chủ động tìm hiểu các quy định, chính sách của thị trường

Trước tình hình đó, để xuất khẩu thủy sản sang thị trường Anh, Bộ Công Thương khuyến nghị doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu thông tin thị trường, các quy định chính sách của UK, cùng các cam kết liên quan trong Hiệp định UKVFTA để có thể tận dụng hiệu quả các ưu đãi khi xuất khẩu sang thị trường UK.

Ngoài ra, ngành thủy sản xây dựng vùng nguyên liệu bền vững, chú trọng từ khâu giống, nhằm tạo nguồn cung ứng ổn định về số lượng, đồng đều về chất lượng cho chế biến, xuất khẩu. Đẩy mạnh liên kết chuỗi từ ao nuôi, tàu cá đến thu mua nguyên liệu và chế biến, xuất khẩu; đồng thời, có thể tìm kiếm hợp tác với các đối tác đầu tư nước ngoài để tận dụng nguồn vốn và công nghệ tiên tiến.

Cùng với đó, đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu và gia tăng các sản phẩm chế biến sâu. Lựa chọn phân khúc thị trường và kênh phân phối phù hợp với sản phẩm và quy mô của doanh nghiệp; chú trọng tìm hiểu thị hiếu, đặc trưng thị trường. Theo đó, nếu sản phẩm đã có thương hiệu nên tiếp cận phân khúc thị trường bán lẻ chuyên ngành sẽ được giá cao hơn nhưng đòi hỏi chất lượng sản phẩm ổn định thay vì bán sản phẩm cho các nhà bán lẻ đã có thương hiệu sau đó họ sẽ đóng gói dưới thương hiệu của họ, hoặc bán sản phẩm thô.

Mặt khác, các doanh nghiệp cần tăng cường áp dụng khoa học công nghệ, phát triển các hệ thống sản xuất và chế biến hiện đại, từ đó tối ưu hóa quá trình sản xuất để nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng cho sản phẩm, giúp thủy sản Việt tiến dần tới các tiêu chuẩn quốc tế và tạo lợi thế cạnh tranh. Gia tăng sản phẩm trên các thị trường ngách; tiếp cận thêm các thị trường mới thông qua các chuỗi siêu thị và các cửa hàng bán lẻ.

Đầu tư phát triển các dòng sản phẩm hữu cơ, theo Bộ Công Thương, cũng là một hướng đi triển vọng do ngày càng nhiều người tiêu dùng UK có xu hướng chuộng sử dụng hàng hóa có nguồn gốc tự nhiên, thân thiện với môi trường. Cải thiện mẫu mã, bao bì sản phẩm, chú trọng đóng gói, nhãn mác phù hợp với thẩm mỹ và tập quán tiêu dùng tại UK; đồng thời tăng tính tiện lợi của sản phẩm. Đẩy mạnh xây dựng và phát triển thương hiệu. Đa dạng hóa các hình thức quảng bá, xúc tiến thương mại, tận dụng các công cụ trực tuyến nhưng cũng không nên bỏ qua các hình thức truyền thống như các hội chợ khu vực.

Theo Công Thương

Ngành tôm hùm hướng đến giải pháp bền vững, gia tăng giá trị

Tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng trong năm 2026 đang khẳng định vị thế của tôm hùm trong nhóm mặt hàng thủy sản có hiệu quả kinh tế cao của Việt Nam. Tuy nhiên, để chuyển dịch từ tăng trưởng theo sản lượng sang phát triển bền vững, việc tháo gỡ các điểm nghẽn về con giống, quy hoạch vùng nuôi và thị trường tiêu thụ được coi là điều kiện tiên quyết.

MỤC TIÊU XUẤT KHẨU NÔNG SẢN 100 TỶ USD: Nhận diện những 'nút thắt' để xuất khẩu thủy sản về đích

Mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam lên khoảng 95-100 tỷ USD vào năm 2030 là mục tiêu lớn nhưng có cơ sở, nhất là khi mỗi ngành hàng đều nỗ lực vươn lên, đóng góp vào mục tiêu này. Phóng viên Báo Điện tử Chính phủ đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) về những vướng mắc nội tại và các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 6 tháng cuối năm 2026 và vươn lên trên "chặng đường 100 tỷ USD".

Chuyển mình đưa ngành dừa đạt mốc 2 tỷ USD

Giữa biến động của thị trường nông sản năm 2026, ngành dừa Việt Nam đang trải qua những thay đổi toàn diện. Chuyển từ tư duy bán thô sang định danh bằng dữ liệu số, chuẩn hóa nguyên liệu và thắt chặt liên kết chuỗi, trái dừa không chỉ tự tin vượt mốc 1,1 tỷ USD xuất khẩu trong năm nay mà còn tạo nền tảng vững chắc hướng tới mục tiêu 2 tỷ USD.

Công nghệ chế biến sâu: Lối thoát cho bài toán giá trị nông sản Việt

Nhiều năm qua, ngành nông nghiệp Việt Nam rơi vào cái bẫy sản lượng khi nguồn cung dồi dào nhưng giá trị thu về chẳng được bao nhiêu. Trong bối cảnh chi phí sản xuất gia tăng, việc dồn lực đầu tư vào công nghệ và chế biến sâu không còn là một lựa chọn mở, mà đã trở thành mệnh lệnh sống còn để tái cấu trúc toàn bộ ngành hàng.

Tín dụng/GDP của Việt Nam 'phình' lên 155%, cao gấp 3 lần nhóm cùng hạng

Fitch Ratings đánh giá Việt Nam đang duy trì tốc độ tăng trưởng cao và có nền tảng tài khóa tương đối vững, song quy mô tín dụng quá lớn, dự trữ ngoại hối mỏng, phụ thuộc vào khu vực FDI và những rủi ro thương mại với Mỹ vẫn là các điểm nghẽn khiến Việt Nam chưa thể vượt khỏi mức xếp hạng BB+.

Video