Xuất khẩu Việt Nam hướng tới “miền giá trị mới”

Xuất khẩu của Việt Nam đã đi rất xa. Giờ là lúc hành trình ấy bước sang một chương mới: từ kỷ lục về lượng sang khẳng định về chất, từ “Made in Vietnam” sang “Brand Vietnam”.
Xuất khẩu của Việt Nam đã đạt được những con số kỷ lục vào năm 2025.

Giới hạn mô hình cũ

Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam đã rất thành công với chiến lược mở rộng xuất khẩu, từ những mặt hàng đơn giản thuần túy bản địa như cá, tôm, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu cho đến sản phẩm công nghệ cao - điện thoại, thiết bị điện tử, linh kiện, phần mềm.

Với nông - lâm - thủy sản, nhờ bản lĩnh và trí tuệ người Việt, được hậu thuẫn bởi những chính sách cải cách không ngừng, không gian sản xuất được khai thác tối đa. Từ mẫu hình “cánh đồng năm tấn” kinh điển ở miền Bắc đến những cánh đồng lớn trị giá hàng triệu USD ở Tây Nam Bộ. Đó là dấu ấn rõ nét của một thời kỳ phát triển theo chiều rộng.

Sau giải phóng, vùng đất bazan Tây Nguyên còn bạt ngàn diện tích. Chính sách kinh tế mới của Đảng và Nhà nước đã giúp đả thông điểm nghẽn lực lượng sản xuất - người nông dân phát huy tối đa khả năng “cải tạo tự nhiên”, làm xuất hiện những “siêu” trang trại tiêu, cà phê, sầu riêng,… đúng nghĩa “cò bay thẳng cánh”. Khối lượng nông sản xuất khẩu không ngừng gia tăng khi ruộng rẫy mở rộng đến đỉnh điểm.

Cũng như thế, trước khi Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ ngoại giao, nền sản xuất của chúng ta chỉ có những thương hiệu nội địa với cơ cấu sản phẩm hạn hẹp. Sau mốc thời gian 1995 đến nay, làn sóng FDI đã mang hầu hết những tập đoàn hàng đầu thế giới đến Việt Nam chắp cánh cho khái niệm “made in Vietnam” bay xa.

Tuy nhiên, phía sau những thứ hạng ấn tượng ấy là một nghịch lý quen thuộc: giá trị gia tăng giữ lại trong nước còn hạn chế, thương hiệu mờ nhạt, và quyền định giá phần lớn nằm trong tay các nhà nhập khẩu.

Với nông sản, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan từng thẳng thắn: “Nếu chỉ nhìn vào kết quả xuất khẩu về sản lượng tức là chúng ta mới chỉ khai phá tầng thấp nhất trong chuỗi giá trị là bán thô sản phẩm”.

Trong bối cảnh nhân khẩu học sắp “trôi” qua thời điểm vàng, tài nguyên tự nhiên được khai thác mạnh - “đỉnh cao về lượng” đã dần hiện hữu, một câu hỏi chiến lược cũng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết: Việt Nam sẽ đi tiếp con đường xuất khẩu như thế nào để không chỉ bán được nhiều hơn, mà còn bán được tốt hơn, đắt hơn và bền vững hơn?

Xuất khẩu “giá trị”

Tại sao những tập đoàn đa quốc gia như Samsung, Toyota, Meta, Google, TSMC, Nvidia, Cargill, Unilever hay Bayer Corteva, Syngenta,… có thể tạo ra doanh thu tương đương nhiều nền kinh tế trong top 30 toàn cầu? Đáp án rất rõ ràng: thứ họ bán không chỉ là con chip, hạt giống, thực phẩm hay chiếc xe hữu hình.

Hướng tới xuất khẩu các mặt hàng có thể mang về giá trị gia tăng lớn lớn

Điểm khác biệt căn bản giữa “xuất khẩu hàng hóa” và “kinh doanh thương hiệu” nằm ở quyền kiểm soát câu chuyện sản phẩm. Một thương hiệu mạnh không chỉ bán sản phẩm, mà bán niềm tin, trải nghiệm và giá trị văn hóa đi kèm. Khi đó, biên lợi nhuận không còn phụ thuộc hoàn toàn vào chi phí sản xuất, mà gắn với nhận thức của thị trường và sự trung thành của người tiêu dùng.

Ông Lê Minh Hoan đã đề cập đến thuật ngữ “miền giá trị mới”- tức là khai thác giá trị đa tầng. “Câu chuyện giờ không chỉ đơn giản là chỉ sản xuất và mua bán mà đã định hình được thói quen sản xuất theo thị trường. Chúng ta bán thứ thị trường cần, chứ không phải bán những sản phẩm sản xuất được, tức là đã biến sản phẩm thành thương phẩm”, ông Hoan nhấn mạnh.

Một thương hiệu có giá trị không chỉ bán sản phẩm, mà còn bán câu chuyện. Với doanh nghiệp Việt, câu chuyện ấy có thể bắt nguồn từ vùng nguyên liệu, từ tay nghề thủ công, từ tinh thần đổi mới hay từ khát vọng vươn lên của một nền kinh tế đang phát triển nhanh. Vấn đề là câu chuyện cần được kể bằng “ngôn ngữ toàn cầu” - đơn giản, chân thực và chạm đến cảm xúc của người tiêu dùng quốc tế.

Thay vì chỉ nhấn mạnh giá rẻ hay sản lượng lớn, doanh nghiệp cần chuyển sang kể về giá trị khác biệt: tính bền vững, trách nhiệm xã hội, yếu tố văn hóa hay công nghệ. Đây chính là cách để sản phẩm Việt thoát khỏi sự so sánh thuần túy về giá và bước vào phân khúc giá trị cao hơn.

Chuyển dịch từ xuất khẩu thô sang kinh doanh thương hiệu đòi hỏi tư duy dài hạn, đầu tư cho thiết kế, nghiên cứu thị trường, chuẩn hóa chất lượng và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Không ít doanh nghiệp Việt đã bắt đầu đi theo hướng này, từ nông sản chế biến sâu, thực phẩm mang bản sắc địa phương, đến các thương hiệu công nghiệp, công nghệ từng bước xuất hiện trên thị trường quốc tế với tên tuổi riêng.

Ở tầng sâu hơn, kinh doanh thương hiệu không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mà còn góp phần gia tăng sức mạnh mềm của quốc gia. Mỗi sản phẩm mang thương hiệu Việt ra thế giới là một “đại sứ thầm lặng”, kể câu chuyện về con người, văn hóa và năng lực của đất nước. Khi người tiêu dùng quốc tế tin tưởng và yêu thích sản phẩm Việt, niềm tin ấy sẽ lan tỏa sang du lịch, đầu tư và hợp tác.

Theo Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp

Động lực dẫn dắt thị trường nửa cuối năm

Sau giai đoạn biến động mạnh bởi bất ổn địa chính trị và áp lực lạm phát toàn cầu, kinh tế Việt Nam đang ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi sản xuất, xuất khẩu, FDI và đầu tư công tiếp tục là những động lực tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, thị trường chứng khoán nửa cuối năm được kỳ vọng khởi sắc hơn, dù quá trình phục hồi vẫn đi kèm những thách thức cần theo dõi.

Hà Nội mở cổng giao dịch điện tử cho doanh nghiệp

Hà Nội đang nghiên cứu, triển khai Cổng gửi nhận văn bản giữa tổ chức, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước nhằm giảm hồ sơ giấy, rút ngắn thời gian xử lý và mở rộng giao dịch hành chính trên môi trường số.

Tín dụng xanh tăng gấp 4,6 lần, doanh nghiệp nhỏ vẫn đứng ngoài cuộc

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, dư nợ tín dụng xanh đã đạt 828.000 tỷ đồng, gấp 4,6 lần so với năm 2017. Tuy nhiên, TS. Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) cho rằng, dòng vốn này vẫn chủ yếu tập trung vào các dự án quy mô lớn, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn do vướng mắc về cơ chế, dữ liệu và điều kiện vay vốn.

Kinh tế Việt Nam không thể chủ quan với nguy cơ 'bốn chậm'

TS Nguyễn Bích Lâm - nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê nhận định, nguy cơ “bốn chậm” của nền kinh tế gồm: chậm cải cách thể chế, chậm tái cơ cấu nền kinh tế, chậm nâng cao hiệu quả đầu tư và chậm tăng cường năng lực nội sinh có thể ảnh hưởng tới chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của Việt Nam trong dài hạn nếu không được khắc phục kịp thời.

Video