Thay đổi phương thức quản lý trong cắt giảm các điều kiện kinh doanh

Ngay từ đầu năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP (Nghị quyết 02) về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong năm 2020.

Thay đổi phương thức quản lý trong cắt giảm các điều kiện kinh doanh

Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương. Ảnh: vietnamplus.vn

Đây là năm thứ 7 liên tiếp, Chính phủ ban hành Nghị quyết về cắt giảm điều kiện kinh doanh, giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Qua 7 năm nỗ lực cải cách cắt giảm các điều kiện kinh doanh, nếu xét riêng trong khu vực ASEAN, Việt Nam vẫn chưa hoàn thành được mục tiêu lọt vào nhóm 4 nước có môi trường kinh doanh tốt nhất.

Để cùng tìm hiểu rõ hơn về những nỗ lực và các giải pháp cải cách thủ tục kinh doanh của các cơ quan trong Chính phủ, phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương.

Qua 7 năm liên tiếp Chính phủ ban hành Nghị định về cải cách thủ tục kinh doanh, ông đánh giá như thế nào về các kết quả đạt được?

Sau 7 năm thực hiện các nghị quyết liên quan đến cắt giảm điều kiện kinh doanh, Việt Nam đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Đầu tiên phải khẳng định là đã cắt giảm được sự tùy tiện của các bộ ngành trong việc ban hành các văn bản chính sách liên quan đến điều kiện kinh doanh.

Trước đây, các điều kiện kinh doanh có thể nằm cả trong các thông tư, có nghĩa là thuộc thẩm quyền ban hành của các bộ, ngành. Thậm chí trước đây, một số địa phương cũng có thể ban hành điều kiện kinh doanh.

Tuy nhiên, từ năm 2016 trở lại đây, Chính phủ quy định tất cả các điều kiện kinh doanh chỉ được quy định trong nghị định, có nghĩa là thuộc thẩm quyền của Chính phủ và Quốc hội. Như vậy, Việt Nam đã chấm dứt được tình trạng tùy tiện trong việc đưa ra các điều kiện kinh doanh.

Thứ hai, sau 7 năm, chúng ta đã dần dần cắt bỏ được số lượng các điều kiện kinh doanh không hợp lý, không cần thiết. Ví dụ từ năm 2017-2019, Việt Nam đã cắt giảm được hàng nghìn các điều kiện kinh doanh. Như vậy, chúng ta đã giảm được các yêu cầu bất hợp lý và giảm được gánh nặng cho các doanh nghiệp.

Là thành viên Ban soạn thảo Nghị quyết năm nay, ông có thể chia sẻ về những nội dung trọng tâm được đặt ra trong năm nay như thế nào?

Có thể nói, cách tiếp cận của Nghị quyết 02 năm nay khác năm 2019. Có điểm chung là Chính phủ vẫn lấy cách tiếp cận chung của thế giới về cải thiện môi trường kinh doanh, lấy thứ tự xếp hạng chung của thế giới là trọng tâm và là thước đo cho sự thành công hay thất bại của việc cải cách nhưng điểm nhấn năm nay là tập trung ở hai khía cạnh.

Thứ nhất, Chính phủ tập trung cải cách điều kiện kinh doanh, điều này các nước không làm như vậy.

Thứ hai, năm nay Chính phủ đưa ra các chỉ đạo rất cụ thể trong yêu cầu về cắt giảm các điều kiện kinh doanh. Ví dụ yêu cầu Bộ Tài chính sửa đổi Nghị định 139/2016/NĐ-CP Quy định về lệ phí môn bài. Điều này khác với năm 2019, khi Chính phủ tạo dư địa linh hoạt cho các bộ, ngành cắt giảm và thực thi cải cách.

Thứ ba là Chính phủ nhấn mạnh đến cải cách thực chất về cắt giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp chứ không nhấn mạnh đến thứ hạng cải cách để đánh giá về thành công trong cải cách môi trường kinh doanh.

Thưa ông, Chính phủ đã rất nỗ lực và quyết tâm chỉ đạo cải cách thủ tục kinh doanh, còn về phía các bộ, ngành và địa phương thì sao? Theo ông, những ngành, lĩnh vực nào chậm cải cách nhất?

Rất khó để nói cảm quan về bộ ngành nào tích cực hay không tích cực. Muốn so sánh, chúng ta chỉ xem lĩnh vực nào còn chậm cải cách thì rõ ràng là ngành, bộ đó chưa tích cực. Ví dụ trong những năm qua chỉ số về phá sản, giải quyết tranh chấp hợp đồng vẫn còn chậm cải cách, trong khi nhiều chỉ số cải cách có tiến bộ.

Tất nhiên trong 3 tháng thực hiện Nghị quyết 02, đã ghi nhận một số bộ ngành rất tích cực trong cắt giảm điều kiện kinh doanh. Cụ thể, Bộ Công Thương đã lần thứ 2 cắt giảm các điều kiện kinh doanh cho thấy sự nỗ lực của Bộ này.

Mặc dù các bộ, ngành đã tích cực vào cuộc nhưng chỉ số khởi sự kinh doanh của Việt Nam vẫn rất thấp. Theo ông, chúng ta cần có giải pháp gì để đạt mục tiêu nâng chỉ số này lên từ 10 - 15 bậc như Nghị quyết 02 đã đặt ra?

Như tinh thần của Thủ tướng yêu cầu trong Nghị quyết 02, muốn cải cách các thủ tục gia nhập thị trường thì phải cắt giảm các thủ tục không cần thiết. Hiện để gia nhập thị trường phải qua 8 thủ tục liên quan và phải mất 17 ngày với các chi phí không cần thiết. Như vậy, chỉ có cắt giảm các thủ tục này mới có thể nâng cao chỉ số về khởi sự doanh nghiệp.  Từ đầu năm đã có động thái tích cực trong việc cải thiện các chỉ số gia nhập thị trường.

Cụ thể, như Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/2020/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 139/2016/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài. Nghị định quy định cắt giảm thuế môn bài năm đầu tiên cho doanh nghiệp, điều này đã giúp doanh nghiệp tham gia thị trường dễ hơn và giảm chi phí 2 triệu đồng cho doanh nghiệp.

Theo Quốc Huy (Báo Tin tức)

GDP quý II/2026 tăng trưởng khá, ước đạt 8,39%

Tại Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026 diễn ra sáng 3/7, Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho biết tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2026 đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước.

Định hình diện mạo thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm

Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm đã được công bố cùng nhiều mục tiêu phát triển dài hạn. Điều được nhấn mạnh tại hội nghị vừa diễn ra tại Hà Nội không chỉ là những con số hay định hướng, mà còn là yêu cầu chuyển hóa quy hoạch thành các dự án và kết quả phát triển cụ thể.

Việt Nam có khả năng sản xuất 1 triệu thùng nhiên liệu hàng không bền vững SAF mỗi ngày

Đánh giá triển vọng của ngành SAF Việt Nam trong giai đoạn 2030-2050, bà Sharmine Tan, Giám đốc Phát triển bền vững và Chính sách khu vực Đông Nam Á của Boeing cho rằng với nguồn phụ phẩm từ lúa gạo và sắn phong phú, Việt Nam có khả năng sản xuất khoảng 1 triệu thùng SAF mỗi ngày.

Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam không phải là 'Dubai tiếp theo'

Theo VinaCapital, VIFC được định vị là kênh thu hút dòng vốn quốc tế phục vụ nhu cầu phát triển của nền kinh tế, thay vì trở thành trung tâm quản lý tài sản toàn cầu như mô hình Dubai. Với nhu cầu vốn đầu tư ước tính khoảng 1,5 nghìn tỷ USD, VIFC được kỳ vọng sẽ đóng vai trò kết nối dòng vốn ngoại với các dự án hạ tầng và công nghiệp trọng điểm của Việt Nam.

Video