Ô tô lắp ráp ở Việt Nam phải nhập 80% linh kiện

Xe sản xuất tại Thái Lan hoặc Indonesia chỉ có khoảng 10% linh kiện nhập khẩu, trong khi xe lắp ráp ở Việt Nam phải nhập trên 80% linh kiện.

Ô tô lắp ráp ở Việt Nam phải nhập 80% linh kiện

Thông tin đáng chú ý này được ông Nguyễn Trung Hiếu, Trưởng tiểu ban Chính sách Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), chia sẻ tại tọa đàm “Chính sách thuế và vai trò Hải quan thúc đẩy công nghiệp ô tô Việt Nam” do báo Hải quan phối hợp với VAMA tổ chức ngày 3/11.

Theo ông Hiếu, dù phát triển muộn hơn so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia khoảng 30 năm, song với những nỗ lực của Chính phủ và các doanh nghiệp (DN), hai năm trở lại đây, ngành công nghiệp (CN) ô tô Việt Nam có sự phát triển nhanh. Sản lượng xe sản xuất lắp ráp trong nước tăng lên nhanh chóng. Đặc biệt, 2 năm qua, thị trường ô tô Việt ghi nhận kết quả tăng trưởng nhanh, nổi lên mạnh mẽ của 3 DN gồm TC Motor, Trường Hải (Thaco) và VinFast.

Báo cáo của Bộ Công Thương cho thấy, dù phát triển nhanh về số lượng song ngành sản xuất lắp ráp ô tô trong nước vẫn chưa đạt được tiêu chí của ngành sản xuất ô tô thực sự. “Chưa tạo được sự hợp tác, liên kết và chuyên môn hóa giữa các DN trong sản xuất, lắp ráp ô tô và sản xuất phụ tùng linh kiện. Chưa hình thành được hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu và sản xuất linh kiện quy mô lớn. Tỷ lệ nội địa hóa xe cá nhân thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra”, ông Lương Đức Toàn, Phó Trưởng phòng Công nghiệp Chế biến Chế tạo, Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) chia sẻ.

Theo ông Toàn, hiện nay chỉ có một vài nhà cung cấp trong nước có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất lắp ráp ô tô tại Việt Nam.Việt Nam hiện phải nhập khẩu (NK) hầu hết nhóm sản phẩm hỗ trợ có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, nhất là các bộ phận linh kiện quan trọng (80% linh kiện phải NK). Thực tế, Việt Nam mới chỉ nội địa hóa được các linh kiện cồng kềnh như ghế ngồi, bộ dây điện.

“Chẳng hạn nắp bình xăng, báo giá của nhà cung cấp trong nước bán ra thị trường gần 4 đô-la Mỹ, cao hơn gấp đôi so với NK sẵn từ Thái lan. Chênh lệch chi phí 200-300% cũng áp dụng cho những linh kiện nhựa hoặc dập cỡ trung bình khác. Và khoảng chênh lệch thậm chí còn lớn hơn đối với các linh kiện ở các lớp cao hơn”, ông Hiếu dẫn chứng.

Chi phí NK linh kiện đắt đỏ dẫn đến chi phí sản xuất lắp ráp xe trong nước (CKD) cao hơn so với xe NK nguyên chiếc (CBU) từ ASEAN 10-20%. “Đáng chú ý hơn, chi phí NK xe CBU chỉ chiếm khoảng 5% so với tổng giá thành xe, trong khi đối với linh kiện, tỷ lệ này có thể tăng lên tới 20-30%”, đại diện VAMA cho hay. Sản lượng ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước năm 2018 đạt 258.116 xe, tăng lên 330.000 xe năm 2019; 9 tháng đầu năm 2020 dù ảnh hưởng COVID-19 nhưng sản lượng ô tô vẫn đạt trên 160.000 chiếc.

Theo Tiền Phong

Xây dựng bộ nhận diện hình ảnh quốc gia Việt Nam

Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 173/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. aa Zalo

Kinh tế - xã hội tiếp tục đạt kết quả tích cực ngay từ tháng đầu năm

Thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương cần tập trung quán triệt, triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Đây là các nội dung nằm trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm được Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ tại phiên họp Chính phủ với các địa phương tháng 1/2026 diễn ra ngày 4/2.

“Chìa khóa” thúc đẩy điện gió ngoài khơi

Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa năng lượng truyền thống dần thu hẹp, dù được kỳ vọng trở thành trụ cột mới, tuy nhiên, việc phát triển điện gió ngoài khơi vẫn còn đó những tồn tại.

Tăng tốc hút vốn tư nhân cho kinh tế số

Theo báo cáo thường niên của Google, Temasek và Bain & Company, vốn tư nhân đầu tư vào nền kinh tế số Đông Nam Á trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,7 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Video