Giá thép trong nước tiếp tục giảm hơn 300.000 đồng/tấn lần thứ năm

Từ ngày 11/5, giá thép giảm 5 lần liên tiếp.

Nhiều doanh nghiệp thép hạ giá sản phẩm từ chiều 6/6 và là lần giảm thứ năm liên tiếp trong hơn ba tuần. 

Hòa Phát tại miền Bắc giảm cùng giảm 300.000 đồng/tấn đối với thép CB240 và D10 CB300, xuống còn 16,95 triệu đồng/tấn và 17,51 triệu đồng/tấn. Tại miền Nam, giá hai loại trên cũng giảm 300.000 đồng/tấn, xuống còn 16,95 triệu đồng/tấn và 17,41 triệu đồng/tấn.

Giá thép trong nước tiếp tục giảm hơn 300.000 đồng/tấn lần thứ năm - Ảnh 1.

Diễn biến giá thép Hòa Phát tại miền Bắc đến ngày 7/6. Nguồn: Steel Online

Với Việt Đức ở khu vực miền Bắc, CB240 và D10 CB300 sau điều chỉnh còn 16,82 triệu đồng/tấn và 17,47 triệu đồng/tấn, với mức giảm lần lượt 300.000-310.000 đồng/tấn.Với thương hiệu thép Việt Ý, CB240 và D10 CB300 hạ theo thứ tự là 300.000 đồng/tấn và 310.000 đồng/tấn xuống 16,92 triệu đồng/tấn và 17,42 triệu đồng/tấn.

Thép miền Nam cũng giảm mức tương đương đối với hai loại thép trên. Từ ngày 6/6, giá CB240 và CB300 còn 17,36 triệu đồng/tấn và 17,76 triệu đồng/tấn.

Thép Pomina cùng giảm 300.000 đồng/tấn đối với CB240 và CB300. Sau điều chỉnh, giá hai loại trên còn 17,76 triệu đồng/tấn và 17,96 triệu đồng/tấn.

Từ ngày 11/5, các công ty thép có năm lần hạ giá liên tiếp với tổng mức giảm hơn 2 triệu đồng/tấn. Cụ thể, CB240 và CB300 của Hòa Phát ở miền Bắc giảm lần lượt 2,04 triệu đồng/tấn và 1,58 triệu đồng/tấn. Cùng hai loại trên, thép Việt Ý giảm lần lượt 1,97 triệu đồng/tấn và 1,57 triệu đồng/tấn.

Còn tại thị trường Trung Quốc, theo Trading Economics, giá thép thanh vằn tương lai tại nước này ngày 6/6 là 4.600 nhân dân tệ/tấn (691 USD/tấn), tăng 3% so với ngày trước đó.

Giá giao ngay của nhiều loại thép tại Trung Quốc cũng tăng. Giá thép thanh vằn tăng 1,2% lên 4.796 nhân dân tệ/tấn (720 USD/tấn).

Giá cuộn cán nóng tăng 1% lên 4.922 nhân dân tệ/tấn (739 USD/tấn). Cuộn cán nguội giảm 0,2% xuống còn 5.386 nhân dân tệ/tấn (809 USD/tấn).

Thành phố Thượng Hải, Trung Quốc đã mở cửa trở lại sau hai tháng phong tỏa. Các chuyên gia trong ngành cho rằng nhu cầu thép sẽ phục hồi khi các hoạt động sản xuất, chế tạo hoạt động trở lại.

Về kim loại màu, bạc và nhôm tăng lần lượt 1,8% và 1,5% lên 4.773 nhân dân tệ/tấn (717 USD/tấn) và 20.856 nhân dân tệ/tấn (3.134 USD/tấn).

Theo Đỗ Lan (NDH)

Thách thức mới từ biến động toàn cầu

Hai tháng đầu năm 2026, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực với nhiều chỉ số quan trọng tăng khá. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động mạnh, đặc biệt là căng thẳng tại Trung Đông khiến giá dầu và chi phí vận tải tăng nhanh, những rủi ro mới đối với lạm phát và tăng trưởng đang dần hiện hữu, đặt ra yêu cầu điều hành kinh tế vĩ mô linh hoạt và thận trọng hơn trong thời gian tới.

Hai kịch bản cho VN-Index

Giá dầu tăng mạnh gây áp lực lên thị trường tài chính toàn cầu. Trong bối cảnh dòng vốn ngoại rút khỏi châu Á, VN-Index có thể đối mặt với hai kịch bản vận động trong thời gian tới.

Kiểm soát lạm phát 2026 trước những “sóng gió” lớn hơn

Bài toán kiểm soát lạm phát đang đứng trước những biến số mới từ bên ngoài, đặc biệt là căng thẳng leo thang tại Trung Đông hiện nay. Nếu các cú sốc năng lượng và logistics kéo dài, áp lực lạm phát nhập khẩu và kỳ vọng thị trường có thể gia tăng, đòi hỏi chính sách điều hành giá phải thận trọng hơn.

Video