Đầu tư ra nước ngoài: Động lực củng cố nền kinh tế tự chủ

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không chỉ là câu chuyện mở rộng thị trường, tìm kiếm nguồn tài nguyên hay lợi thế sản xuất, nâng cao năng lực quản trị, xây dựng thương hiệu, mà quan trọng là củng cố nền kinh tế tự chủ, độc lập, ít bị tác động bởi biến động địa chính trị.
 
Đầu tư ra nước ngoài: Động lực củng cố nền kinh tế tự chủ
Chính sách phát triển kinh tế tư nhân cởi mở cùng xu hướng mới tại một số nền kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tìm kiếm cơ hội đầu tư ra nước ngoài

Mở rộng không gian cho dòng vốn Việt

Sau một thời gian trầm lắng, vốn đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài đang có xu hướng tăng trở lại. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 1.362 triệu USD, tăng 88,7% so với năm trước. Trong đó có 173 dự án được mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn là 1,0 tỷ USD, tăng 65,9% so năm trước; 32 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 360,8 triệu USD, gấp hơn 3 lần. Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí thu hút sự quan tâm đặc biệt của các doanh nghiệp Việt Nam khi tổng vốn đầu tư lên đến 506,9 triệu USD, chiếm 37,2% tổn vốn đầu tư.

Những con số này cho thấy, chính sách phát triển kinh tế tư nhân cởi mở cùng xu hướng mới tại một số nền kinh tế thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tìm kiếm cơ hội đầu tư ra nước ngoài. Ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt tăng cường đầu tư ra nước ngoài để mở rộng thị trường. Một số doanh nghiệp tiêu biểu đầu tư lớn ra nước ngoài thời gian qua.

Đơn cử, Tập đoàn TH đã khánh thành nhà máy chế biến sữa quy mô lớn tại Nga. Gần đây, Tập đoàn này cũng bắt tay với các đối tác tại Trung Đông - nơi có nhu cầu nhập khẩu sữa tươi rất lớn, phần nào cho thấy bước đổi mới tư duy từ chỉ xuất khẩu nông sản thô sang sẵn sàng đầu tư trực tiếp để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong khi đó, FPT cũng trở thành một minh chứng tiêu biểu về đầu tư nước ngoài khi đến nay đã có mặt tại hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ, với hàng chục nghìn kỹ sư công nghệ phục vụ khách hàng toàn cầu. Riêng tại hai thị trường lớn nhất là Mỹ và Nhật Bản, mảng công nghệ của FPT duy trì mức tăng trưởng thường niên hơn 30%. Mới đây nhất, Tập đoàn FPT cũng vừa mua David Lamm Consulting - công ty tư vấn công nghệ uy tín trong ngành Năng lượng của Đức, nhằm mở rộng hoạt động tại Đức và châu Âu…

Theo TS. Phan Hữu Thắng, Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam, nguyên Cục Trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, việc đầu tư giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế, mở rộng không gian kinh doanh và tránh phụ thuộc quá lớn vào thị trường nội địa. Điều này đặc biệt quan trọng khi nhu cầu tiêu dùng trong nước có giới hạn và dễ bị tác động bởi suy thoái kinh tế.

Đây cũng là kênh để tiếp cận công nghệ, kỹ năng quản trị tiên tiến và mạng lưới chuỗi cung ứng toàn cầu. Những dự án thành công ở nước ngoài không chỉ mang lại lợi nhuận, nguồn thu ngoại tệ, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khi quay trở lại thị trường nội địa. Bên cạnh đó, OFDI góp phần nâng cao vị thế thương hiệu quốc gia. Khi những thương vụ M&A, các dự án công nghệ, dịch vụ của doanh nghiệp Việt xuất hiện tại thị trường phát triển, hình ảnh Việt Nam không chỉ gắn với “công xưởng” hay nông sản, mà còn gắn với đổi mới sáng tạo, chất lượng và quản trị hiện đại. Mục tiêu dài hạn là để Việt Nam “đi bằng hai chân” - vừa thu hút FDI, vừa mạnh mẽ xuất vốn đầu tư ra bên ngoài - qua đó nâng tầm vị thế trên bản đồ kinh tế thế giới.

Tuy vậy, dòng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài vẫn còn nhiều hạn chế. Quy mô vốn tuy tăng, nhưng vẫn nhỏ so với quy mô nền kinh tế và quy mô dòng vốn FDI vào trong nước. Tính chất các dự án cũng chưa thật sự đa dạng và có tác động lan tỏa mạnh. Vốn đầu tư của các dự án tập trung nhiều vào khai khoáng và nông nghiệp. Đây là các lĩnh vực dễ chịu tác động từ biến động giá cả hàng hóa, rủi ro môi trường và chính sách của nước sở tại. Các dự án công nghệ cao, chế biến chế tạo giá trị gia tăng cao, R&D, trung tâm dịch vụ toàn cầu còn rất ít. Mặt khác, năng lực quản trị, tài chính, pháp lý của doanh nghiệp còn hạn chế.

Bên cạnh đó, phần lớn các doanh nghiệp Việt đầu tư ra nước ngoài là vừa và nhỏ, vốn mỏng, năng lực quản trị xuyên biên giới còn yếu, thiếu kinh nghiệm pháp lý quốc tế và am hiểu thị trường. Những bất cập này đến từ nhiều nguyên nhân. Trước hết là bởi doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn và chuyên môn còn hạn chế, lại đầu tư vào lĩnh vực tài nguyên cần vốn lớn, đòi hỏi công nghệ chuyên sâu, kỹ thuật cao. Trong khi đó, khung chính sách và hỗ trợ chưa hoàn chỉnh. Dù đã có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài nhưng còn thiếu các công cụ như quỹ hỗ trợ, bảo hiểm rủi ro chính trị, cơ chế thúc đẩy M&A, hỗ trợ pháp lý và thông tin thị trường. Chi phí nghiên cứu thị trường và thủ tục đầu tư còn cao, làm giảm động lực mở rộng của doanh nghiệp.

Cải cách thể chế, nâng năng lực doanh nghiệp

Để thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tìm kiếm cơ hội đầu tư ra nước ngoài, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định quy định về đầu tư ra nước ngoài. Trong đó, Dự thảo Nghị định hướng dẫn Điều 42 Luật Đầu tư quy định rõ thẩm quyền của Bộ Tài chính trong việc cấp, điều chỉnh và chấm dứt hiệu lực giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 20 tỷ đồng trở lên hoặc dự án thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư. Đồng thời, Bộ Tài chính có thể phân cấp thẩm quyền này cho các tổ chức trực thuộc theo đúng tinh thần phân cấp, phân quyền của pháp luật hiện hành. Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo là đề xuất chỉ yêu cầu cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài đối với dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 20 tỷ đồng trở lên.

Theo Bộ Tài chính, việc miễn thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài đối với dự án có quy mô vốn nhỏ hơn 20 tỷ đồng là một bước cải cách thủ tục hành chính, giúp giảm gánh nặng tuân thủ, tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, trong khi vẫn bảo đảm cơ chế quản lý thông qua đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định của pháp luật. Việc làm rõ thẩm quyền và cơ chế phân cấp được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao tính chủ động của cơ quan quản lý, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, đồng thời tăng hiệu quả giám sát đối với các dự án đầu tư ra nước ngoài… Các đề xuất này nhằm mục tiêu xuyên suốt là cải cách thủ tục hành chính về đầu tư ra nước ngoài, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát hiệu quả các dự án có quy mô lớn, tiềm ẩn rủi ro đối với an ninh tài chính và dòng vốn quốc gia.

Câu chuyện đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam đặt ra không chỉ là “đi hay không đi”, mà là đi như thế nào để hiệu quả, bền vững và gắn với mục tiêu tự chủ kinh tế quốc gia. Một chuyên gia khuyến nghị, doanh nghiệp Việt trước khi ra biển lớn thì cần phải nắm chắc các vấn đề pháp lý, đây được ví như phao cứu sinh giúp doanh nghiệp không bị chìm khi gặp bão. Đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, nếu chưa đủ kinh nghiệm chủ động tài trợ chính trị, đối thoại, vận động chính sách ở nước nhận đầu tư thì nên chọn chiến lược ưu tiên rà soát trước khi gia nhập thị trường.

Bên cạnh đó, cần quan sát, học hỏi kinh nghiệm các doanh nghiệp đi trước, xem cách họ ứng xử với chính quyền nước nhận đầu tư để rút ra kinh nghiệm cho đơn vị mình. Thận trọng với các quốc gia thiếu các thể chế phát triển vì chứa đựng nhiều rủi ro trong môi trường bất ổn định chính trị. Đặc biệt, các doanh nghiệp cần chia sẻ, tạo liên minh với các tổ chức, doanh nghiệp khác như các đại sứ quán, hiệp hội, nhà phân phối tại địa phương, ngân hàng… để có nhiều nguồn lực quản trị rủi ro chính trị hơn, nhằm tận dụng thế mạnh của từng bên liên kết.

Theo Thời báo Ngân Hàng

Ngành điều trước cơ hội tăng trưởng

Năm 2026 được dự báo sẽ là năm nhiều kỳ vọng đối với ngành điều Việt Nam khi thị trường xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng đứng trước yêu cầu phải nâng cao giá trị gia tăng thông qua chế biến sâu, thay vì chỉ phụ thuộc vào xuất khẩu nhân điều thô như trước đây.

Năm 2026 - Bước chuyển của nền công nghiệp Việt Nam

Khép lại năm 2025, ngành công nghiệp đã ghi dấu ấn mạnh mẽ khi vượt qua hàng loạt thách thức để đạt mức tăng trưởng ấn tượng: GDP công nghiệp đạt khoảng 200 tỉ USD, tăng mạnh so với 136 tỉ USD năm 2020. Thành tựu công nghiệp 2025 cho thấy Việt Nam đang đi đúng hướng công nghiệp hóa đi đôi với hiện đại hóa, tạo nền tảng vững chắc để đạt mục tiêu nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030.

Xác lập mô hình tăng trưởng mới tạo cơ hội cho doanh nghiệp

Xác lập mô hình tăng trưởng mới theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đang mở ra nhiều cơ hội phát triển dài hạn cho doanh nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ, chuyển đổi số và kinh tế xanh.

Ngành rau quả xuất khẩu: Thay đổi cách tiếp cận để phát triển bền vững

Xuất khẩu rau quả Việt Nam sang Trung Quốc đang ghi nhận bước nhảy vọt cả về giá trị lẫn vị thế. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), so với năm trước, kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường này tăng gần 19%, tương đương hơn 870 triệu USD. Không chỉ lập mức tăng cao nhất về giá trị tuyệt đối, kết quả này còn đưa Việt Nam trở thành quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong nhóm 10 nguồn cung rau quả lớn nhất của Trung Quốc.

Video