Bất hợp lý trong cơ cấu tài sản giữa các lĩnh vực trong hệ thống tài chính

So với các nước trong khu vực, qui mô hệ thống tài chính Việt Nam vẫn còn ở mức khiêm tốn, năng lực cung ứng vốn còn hạn chế, đặc biệt còn phụ thuộc nhiều vào khu vực ngân hàng.

[caption id="attachment_46774" align="aligncenter" width="660"]he thong tai chinh tien So với các nước trong khu vực, qui mô hệ thống tài chính Việt Nam vẫn còn ở mức khiêm tốn. (Nguồn ảnh minh họa: Internet) [/caption]

Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia (NFSC) đã đưa ra nhận định như vậy trong Báo cáo tổng quan thị trường tài chính 2016. Theo NFSC, trong năm 2016, hệ thống tài chính đã thực hiện tốt chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế nhờ kinh tế vĩ mô ổn định, thanh khoản khu vực ngân hàng dồi dào và diễn biến tích cực của thị trường chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu). Quá trình tái cơ cấu hệ thống tài chính từ cuối năm 2011 cũng góp phần lành mạnh hóa thị trường tài chính (giảm 10% số tổ chức tín dụng (TCTD) và 25% số công ty chứng khoán). Hoạt động của khu vực tài chính Việt Nam tiếp tục phát triển an toàn với mức đủ vốn bình quân của hệ thống cao hơn mức chuẩn an toàn và khả năng sinh lời của toàn hệ thống tăng nhẹ so với năm 2015.

Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, qui mô hệ thống tài chính Việt Nam vẫn còn ở mức khiêm tốn, năng lực cung ứng vốn còn hạn chế, đặc biệt còn phụ thuộc nhiều vào khu vực ngân hàng. Thị trường chứng khoán Việt Nam chưa hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài so với tiềm năng. Nợ xấu của các TCTD chưa được giải quyết triệt để, tập trung ở một số TCTD yếu kém, khiến cho mặt bằng lãi suất cho vay vẫn chưa giảm được như kỳ vọng dù được hỗ trợ tích cực từ các yếu tố kinh tế vĩ mô.

taisan2

Quy mô hệ thống tài chính nhỏ hơn các nước trong khu vực

Báo cáo Tổng quan thị trường tài chính của NFSC cho biết, tổng tài sản hệ thống tài chính năm 2016 ước tăng 13,5%; tổng vốn chủ sở hữu tăng 6,8% so với cuối năm 2015. Quy mô hệ thống tài chính Việt Nam vẫn nhỏ hơn các nước trong khu vực. Tổng tài sản hệ thống tài chính tương đương 187,6% GDP, thấp hơn nhiều so với số bình quân của nhóm 5 quốc gia hàng đầu ASEAN (318% GDP).

Mức đủ vốn bình quân của hệ thống tài chính theo báo cáo cao hơn mức chuẩn an toàn theo quy định, tuy nhiên trong hệ thống vẫn còn một số định chế tài chính có mức đủ vốn thấp hơn chuẩn an toàn mặc dù quy mô tài sản và hoạt động của các định chế này nhỏ.

Khả năng sinh lời của hệ thống tài chính được cải thiện. ROA bình quân đạt 0,58% (năm 2015: 0,49%), ROE bình quân đạt 7,57% (năm 2015: 5,98%).

Theo NFSC, quá trình tái cơ cấu hệ thống TCTD giai đoạn 2011-2015 và đến cuối năm 2016 đã tháo gỡ cơ bản các khó khăn của hệ thống: Tình trạng căng thẳng thanh khoản được kiểm soát, thanh khoản chung của toàn hệ thống ổn định; Phát hiện và khu biệt các TCTD yếu kém; Tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo dưới 3,0%, số nợ xấu được xử lý từ năm 2013 đến nay hơn 500 nghìn tỷ đồng (trong đó số nợ bán cho VAMC chiếm 41,6%, TCTD tự xử lý khoảng 58,4%); Sở hữu chéo, đầu tư chéo dần được kiểm soát; Các TCTD chú trọng hơn vào quản trị rủi ro và quản trị điều hành, các văn bản quy phạm pháp luật về chuẩn mực an toàn trong hoạt động của các TCTD được ban hành. Hầu hết các khó khăn của hệ thống TCTD trước năm 2011 về cơ bản đã được tháo gỡ.

Tuy nhiên, quá trình tái cơ cấu TCTD còn một số hạn chế: Xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD chưa triệt để, chủ yếu áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật. Theo đánh giá của NFSC, tỷ lệ nợ xấu cao hơn so với mức báo cáo. Trong số nợ xấu bán cho VAMC, chỉ mới xử lý được khoảng 38 nghìn tỷ đồng, tương đương 15% (qua bán tài sản bảo đảm và bán nợ: 14,5 nghìn tỷ đồng, ủy thác TCTD thu hồi nợ: 23,3 nghìn tỷ đồng). Bên cạnh đó, lãi dự thu bất hợp lý tập trung cao tại một số TCTD yếu kém và việc triển khai áp dụng tiêu chuẩn Basel II trên toàn hệ thống còn chậm so với lộ trình đặt ra.

Cấu trúc hệ thống tài chính chưa hợp lý

Cũng theo nội dung báo cáo, NFSC nhận định, nhìn chung, hệ thống tài chính đã đảm bảo tốt khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Trong năm 2016, hệ thống tài chính cung ứng khoảng 1 triệu 230 nghìn tỷ đồng cho nền kinh tế 27. Trong đó, khu vực ngân hàng cung ứng 68,1%; thị trường vốn cung ứng 31,9%. Tính đến cuối năm 2016, tổng nguồn vốn hệ thống tài chính cung ứng cho nền kinh tế tương đương 181,2%GDP.

NFSC cho rằng, khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống tài chính được đảm bảo trước hết do thanh khoản của khu vực ngân hàng khá dồi dào. Điều này làm tăng khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động trái phiếu Chính phủ đạt kế hoạch năm với lợi suất trái phiếu Chính phủ giảm và kỳ hạn trung bình tăng lên. Đồng thời, diễn biến tích cực của thị trường cổ phiếu và trái phiếu đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát hành trái phiếu Doanh nghiệp và cổ phần hóa DNNN. Huy động vốn thông qua đấu giá cổ phần cả năm tăng 43,1% so với cùng kỳ năm 2015.

“Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, năng lực cung ứng vốn của hệ thống tài chính Việt Nam còn hạn chế. Độ sâu tài chính của hệ thống tài chính Việt Nam chỉ đạt 181% GDP, thấp hơn so với các nước trong khu vực “– NFSC nhận định.

taisan

Bên cạnh đó, cơ cấu tài sản giữa các lĩnh vực trong hệ thống tài chính chưa hợp lý. Hệ thống các tổ chức tín dụng chiếm tới 96,2% tổng tài sản toàn hệ thống tài chính. Các doanh nghiệp bảo hiểm chiếm 2,8%; các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ chiếm 1%.

Cung ứng vốn cho nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống ngân hàng, vốn cung ứng từ thị trường chứng khoán còn khiêm tốn so với tiềm năng và các nước trong khu vực. Cho vay của ngân hàng chiếm hơn 60% tổng cung ứng vốn cho nền kinh tế, cao hơn các nước trong khu vực với tỷ trọng bình quân dưới 50%.

taisan1

Thị trường chứng khoán ít nhận được phân bổ vốn từ các quỹ đầu tư lớn trên toàn cầu do Việt Nam chỉ được coi là thị trường chứng khoán cận biên, chưa đáp ứng hoàn toàn các tiêu chí xếp hạng thị trường chứng khoán mới nổi, trong đó có tiêu chí mức độ tự do trên thị trường ngoại hối. Hơn thế nữa, mức độ tự do hóa tài khoản vốn của Việt Nam thấp hơn các nước trong khu vực như Indonesia, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, Singapore và khả năng chuyển đổi thấp của Đồng Việt Nam cũng ảnh hưởng đến việc thu hút dòng vốn nước ngoài vào thị trường chứng khoán và khả năng hội nhập tài chính khu vực ASEAN.

taisanbox

Theo Châu Huệ DĐDN

Tags:

Tỷ giá năm 2026: Kỳ vọng ổn định dù còn nhiều biến số

Những biến động địa chính trị tại Trung Đông đang khiến thị trường tài chính toàn cầu thận trọng hơn với rủi ro lạm phát và chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, theo nhiều tổ chức phân tích, dù tỷ giá có thể chịu sức ép trong ngắn hạn, mặt bằng tỷ giá USD/VND trong năm 2026 vẫn được kỳ vọng duy trì ổn định nhờ các yếu tố nền tảng của kinh tế vĩ mô Việt Nam.

Việt Nam có 13 ngân hàng trong danh sách thương hiệu ngân hàng giá trị nhất thế giới năm 2026

Báo cáo Banking 500 năm 2026 của Brand Finance ghi nhận tổng giá trị thương hiệu ngành ngân hàng toàn cầu đạt 1,8 nghìn tỷ USD. Đáng chú ý, Việt Nam có 13 ngân hàng góp mặt trong Top 500, cho thấy vị thế ngày càng rõ nét của hệ thống ngân hàng Việt trên bản đồ tài chính thế giới.

Thu hút CASA bằng chiến lược nuôi dưỡng dòng tiền giao dịch của khách hàng

Dòng tiền đang trở lại ngân hàng mạnh mẽ khi tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản thanh toán và tiền gửi tiết kiệm đều vượt mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, chiến lược thu hút tiền gửi không kỳ hạn (CASA) đang bước sang giai đoạn mới - nơi công nghệ chỉ là điều kiện cần, còn chìa khóa thực sự nằm ở khả năng kiểm soát và nuôi dưỡng dòng tiền giao dịch hằng ngày của khách hàng.

Dòng vốn ưu đãi mở lối an cư bền vững

Trong bối cảnh thị trường bất động sản đang được tái cấu trúc theo hướng lành mạnh và bền vững hơn, nhà ở xã hội nổi lên như một trụ cột quan trọng, vừa bảo đảm an sinh xã hội, vừa đóng vai trò “neo ổn định” cho toàn thị trường. Năm 2026, khi hành lang pháp lý được khai thông và dòng vốn tín dụng được nắn đúng hướng, nhà ở xã hội được kỳ vọng bước vào giai đoạn tăng tốc mới, với vai trò dẫn dắt ngày càng rõ nét của hệ thống ngân hàng.

Những mùa xanh trên miền đất đỏ

Cuối tháng Chạp, Tây Nguyên lạnh lắm. Ban ngày, nắng vàng như mật ong rót xuống các triền đồi. Nhưng về đêm, cái lạnh có khi xuống dưới 10 độ C, đủ để sương giăng trắng những con rẫy, đủ để người ta phải kéo cao cổ áo khi bước ra ngoài. Mỗi sớm, bên sườn đồi, cúc quỳ vào mùa nở rực. Người Tây Nguyên thường bảo nhau: thấy hoa cúc quỳ nở là biết xuân bước lên sườn đồi.

Video