Việt Nam và cách mạng công nghiệp 4.0: Cần khác thường và phi thường!

PGS.TS Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, nếu làm được cách mạng công nghiệp 4.0 thì đất nước sẽ chuyển biến rất nhanh. Điều này gắn chặt với tầm nhìn của người lãnh đạo, tầm nhìn quản trị quốc gia.

[caption id="attachment_53637" align="aligncenter" width="600"] PGS.TS Trần Đình Thiên[/caption]

- Ở góc nhìn của mình, xin ông cho biết đâu là cơ hội khi Việt Nam tham gia cách mạng công nghiệp 4.0?

Cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là vô tận, bởi nó sẽ thay đổi cơ bản tất cả mọi thứ trong cuộc sống hiện nay. Khái niệm đầu tiên khi nói về cách mạng 4.0 là sự kết nối, kết nối mọi nơi, mọi lúc giữa người với người, người với vật, đặc biệt quan trọng là giữa vật với vật. Cơ hội dù rất lớn nhưng thách thức cũng rất cao vì công nghệ 4.0 gắn chặt với năng lực trí tuệ.

Trong phần lớn của cải sản xuất ra cho xã hội thì của cải do trí tuệ sáng tạo chiếm tỉ lệ ngày càng lớn trong tổng GDP. Như vậy, thách thức ở đây, nếu muốn ứng dụng được công nghệ 4.0 thì con người phải có trí tuệ thì mới tham gia vào được quá trình sản xuất.

Nói về một nền kinh tế sáng tạo thì bản thân từng con người trong đấy phải có sự sáng tạo. Đối với những nước nghèo hoặc đi sau thường năng lực sáng tạo thấp, sử dụng trí tuệ không cao. Đây là thách thức cơ bản nhất của những nước đi sau, thậm chí còn bị đặt ra bên lề sự phát triển chung của toàn nhân loại. Vấn đề này ngày càng hiển hiện rõ hơn bao giờ hết.

Mỗi cuộc cách mạng công nghiệp đều mang đến sự đảo lộn hệ thống giá trị. Tới đây khi robot có thể thay thế con người khi đó cấu trúc gia đình phải thay đổi. Đơn cử, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Singapore có tỉ lệ người sống độc thân rất cao dù các nước này chưa bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

- Vậy theo ông, cuộc cách mạng này sẽ tác động đến những lĩnh vực nào ở Việt Nam?

Theo thống kê, những ngành gắn với lao động thủ công sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Thứ hai, ngành nghề gắn với quá trình tự động hóa. Ví dụ, ngành dệt may với những thao tác cắt, may thì máy móc đều có thể thay thế được. Công nghệ 4.0 có thể làm việc 24/24 giờ mà không cần nạp năng lượng, thậm chí làm trong điều kiện “tối tăm mù mịt” không cần ánh sáng trong khi vẫn kiểm soát được tốc độ, chất lượng...

Hay với ngành lắp ráp điện tử, robot cũng có thể thay thế. Gần  nhất là ngành lái xe, trước tiên là lái xe taxi có thể nhanh chóng bị loại ra khỏi cuộc chơi trong vòng chưa đầy 20 năm nữa.

Với những lĩnh vực liên quan đến cảm xúc và trực giác con người thì khó thay thế hơn. Ví dụ, nghệ sĩ, bác sĩ, họa sĩ, nhà báo… nhưng vẫn có khả năng thay thế. Riêng họa sĩ có thể khó thay thế những “ông” thiên tài, còn họa sĩ “vẽ lại” thì chắc chắn bị thay ngay lập tức.

Vì thế, với Việt Nam, tính cảnh báo rất cao vì lao động gia công và lắp ráp còn quá nhiều.

- Ông có nói đây là thách thức của những nước đi sau, tuy nhiên có nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam là nước đi sau lại có lợi thế hơn với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Ông có thể phân tích kỹ hơn về vấn đề này?

Ở đây có hàm ý những nước đi sau thường có cơ hội vượt lên trước. Việt Nam không phải tốn quá nhiều chi phí chuyển đổi cho những cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2, thứ 3. Đơn cử, bây giờ  chúng ta mới đầu tư vào một nhà máy ở thời kỳ công nghiệp lần thứ 2 như Formosa sẽ phải giữ lại 50 năm nữa. Trong khi chỉ cần 20 năm là có thể thay thế. Do đó, chúng ta phải ý thức được những di sản từ quá khứ với 2 điều.

Một là chúng ta phải tận dụng những cơ hội từ các cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vì hiện nay vẫn chưa có nhiều gánh nặng từ những cuộc cách mạng trước 4.0. Thứ hai, chúng ta không thể sốt ruột để tích lũy trong thời gian trước mắt  từ những thành quả của cuộc cách mạng 3.0 mà đến nay vẫn chưa làm được, nếu không sẽ phải trả giá rất đắt.

Chính vì vậy chúng ta cần phải có tầm nhìn vượt trội, thậm chí phải hơi “điên rồ” khác thường, và rất cần những con người phi thường. Nếu làm được thì đất nước sẽ chuyển biến rất nhanh. Điều này gắn chặt với tầm nhìn của người lãnh đạo, tầm nhìn quản trị quốc gia.

- Vậy với Việt Nam, những yếu tố cần và đủ để lĩnh hội 4.0 đã có chưa, thưa ông?

Nếu nói điều cần và đủ với Việt Nam, cá nhân tôi nhận thấy chúng ta cái gì cũng thiếu. Chúng ta chỉ có quyết tâm thì lúc nào cũng đầy, nhưng cứ hạ quyết tâm xuống là lại hỏng. Yếu tố cần và đủ còn thiếu nhiều lại trở thành lợi thế. Từ xưa đến nay, Việt Nam được đánh giá là thông minh, “lọ mọ” đi tìm những cái khác người để mày mò sáng tạo. Đây là một ưu thế, nhưng trong hoàn cảnh thiếu điều kiện cơ sở vật chất thì lại đưa ra những sản phẩm không thể dùng được. Bây giờ phải làm sao khuyến khích sự khác người, trong 10 cái khác người mà chỉ cần 1 cái sáng tạo đích thực thì cũng đã rất quý.

Muốn làm được như vậy thì ngay từ bây giờ chúng ta phải cấu trúc lại giáo dục đào tạo khác đi, còn vẫn theo logic cải cách từ gần 20 năm nay thì không thể được. Theo tôi được biết, đến thời điểm này vẫn chưa có gì đột biến và khác thường trong giáo dục, vẫn tư duy bằng cấp, gắn liền với chủ nghĩa phong bì rồi đi liền với tư duy nhiệm kỳ thì vô cùng khó.

Cho nên, nếu nói điều kiện nào thì được cho là cần và đủ kể ra thì vô số, nhưng chung quy lại chúng ta hãy tạo ra định hướng cho Việt Nam một cách nhìn dân chủ, sáng tạo.

- Thế giới đang tiến tới robot hóa, vậy Việt Nam sẽ tiếp cận thế nào trong đào tạo nguồn nhân lực?

Robot không thể ngay lập tức thay thế được con người, nhưng không vì thế mà chúng ta mặc kệ. Việt Nam có tính mặc kệ cũng phi thường, bình chân như vại. Do đó, phải gắn được 2 yếu tố: bình tĩnh nhưng không được chủ quan với tốc độ của của sự thay thế. Nghĩa là trong giai đoạn trước mắt chúng ta vẫn phải lo việc làm cho những người không có tay nghề nhưng phải ráo riết chuẩn bị lực lượng này được đào tạo cơ bản.

- Xin cảm ơn ông!

Tags:

Kinh tế tầm thấp tại Điện Biên: Bắt đầu từ điểm nghẽn logistics

Tại trụ sở Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), chương trình làm việc về xây dựng Đề án thử nghiệm có kiểm soát phát triển kinh tế tầm thấp, ứng dụng phương tiện bay không người lái (UAV) tại tỉnh Điện Biên được tổ chức với sự tham dự của lãnh đạo Bộ KH&CN, Bộ Quốc phòng, UBND tỉnh Điện Biên cùng các đơn vị chức năng và doanh nghiệp liên quan. Cuộc gặp không chỉ bàn về một mô hình công nghệ mới, mà đặt ra trực diện một vấn đề cũ nhưng chưa được giải quyết hiệu quả: điểm nghẽn logistics tại địa phương miền núi.

Tăng trưởng cao nhưng chưa bền vững: Áp lực tháo gỡ điểm nghẽn để đạt mục tiêu hai con số

Thảo luận tại phiên họp thứ 56 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều nay (1/4) cho thấy, dù kinh tế - xã hội năm 2025 đạt nhiều kết quả tích cực, song các điểm nghẽn mang tính cơ cấu vẫn chưa được xử lý căn bản. Trong bối cảnh áp lực năm 2026 gia tăng và mục tiêu tăng trưởng hai con số được đặt ra, yêu cầu tháo gỡ thể chế, nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố năng lực nội tại trở thành vấn đề trung tâm của điều hành chính sách.

Hà Nội thông qua Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm

HĐND TP. Hà Nội khóa XVII đã chính thức thông qua Quy hoạch tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm, xác lập mô hình phát triển mới theo hướng đa trung tâm, đa tầng và gắn kết vùng. Quy hoạch thể hiện bước chuyển mạnh mẽ từ tư duy “quy hoạch hàn lâm” sang “quy hoạch hành động”, đặt nền tảng để Hà Nội phát triển nhanh, bền vững và từng bước trở thành đô thị toàn cầu.

Tăng trưởng 10% trở lên và tư duy phát triển mới

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa XIV của Tổng Bí thư Tô Lâm không chỉ khép lại một hội nghị, mà còn gợi mở một cách tiếp cận mới về đường hướng phát triển.

Video