Từ ethanol đến xăng E10: Khi chuỗi nhiên liệu sinh học đi vào vận hành

Từ ngày 1/6/2026, xăng sinh học E10 đã được bán đại trà trên toàn quốc. Phía sau sự thay đổi tại các cửa hàng bán lẻ là cả một chuỗi sản xuất, phối trộn và phân phối đang được kích hoạt, trong đó Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất và Nhà máy Lọc dầu Dung Quất giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành nguồn cung xăng E10 từ nguyên liệu ethanol trong nước.
Khu vực chứa sản phẩm ethanol tại Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất và đường ống dẫn sản phẩm kết nối với NMLD Dung Quất

Để một lít xăng E10 đến tay người tiêu dùng, cần có nguồn ethanol nhiên liệu ổn định, hệ thống phối trộn đạt chuẩn, hạ tầng bồn bể, đường ống, kho cảng phù hợp và quy trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt.

Trong chuỗi này, Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất, thuộc Công ty Cổ phần Nhiên liệu sinh học dầu khí miền Trung (BSR-BF), đảm nhận khâu sản xuất ethanol. Đây là nguyên liệu quan trọng để phối trộn với xăng nền, tạo thành xăng sinh học E10. Sau thời gian dừng hoạt động, nhà máy đã được bảo dưỡng, sửa chữa và vận hành trở lại từ đầu năm 2026, tạo thêm nguồn cung ethanol trong nước đúng thời điểm thị trường bước vào giai đoạn chuyển đổi sang E10.

Ông Phạm Văn Vượng, Giám đốc BSR-BF cho biết, không chỉ dừng lại ở khôi phục vận hành, Công ty còn triển khai nhiều nhóm giải pháp đổi mới sáng tạo nhằm tối ưu quá trình sản xuất. Các hướng cải tiến tập trung vào nâng hiệu suất tách cát, cải tiến enzyme, tăng công suất chưng cất, tối ưu tiêu hao năng lượng, xử lý nước thải và bã sắn theo hướng kinh tế tuần hoàn.

Trong giai đoạn đầu, nhà máy vận hành từng bước để ổn định hệ thống, sau đó nâng dần công suất. Trong tháng 3/2026, nhà máy vận hành ở mức khoảng 60% công suất; sau đó tiếp tục nâng lên 75-80% công suất và đặt mục tiêu tiếp tục tăng trong tháng 6, hướng tới vận hành tối đa trong các tháng tiếp theo. Khi đạt công suất cao, nhà máy có thể sản xuất khoảng 330 m3 ethanol mỗi ngày, góp phần bổ sung nguồn ethanol phục vụ phối trộn xăng sinh học.

 
Nhân sự thực hiện xuất bán ethanol tại trạm xuất sản phẩm đường bộ tại Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất

Tiếp cận nguyên liệu theo hướng linh hoạt

Để xăng E10 đi vào đời sống, nguồn cung ethanol phải ổn định cả về lượng, chất và giá thành. Đây là bài toán không đơn giản, bởi ethanol nhiên liệu phụ thuộc vào nguyên liệu đầu vào, mùa vụ, logistics và biến động thị trường nông sản. Với Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất, bài toán nguyên liệu được tiếp cận theo hướng đa nguồn, linh hoạt và tối ưu chi phí.

Nguồn nguyên liệu truyền thống của nhà máy là sắn lát. Đây là loại nguyên liệu phổ biến, có thể khai thác trong nước, đặc biệt là tại khu vực Tây Nguyên, cùng với nguồn nhập khẩu từ Lào, Campuchia. Việc kết hợp nguyên liệu trong nước và nhập khẩu giúp giảm rủi ro đứt gãy nguồn cung, nhất là trong các thời điểm mùa vụ biến động hoặc cạnh tranh thu mua tăng cao.

Bên cạnh sắn, nhà máy cũng tính toán khả năng sử dụng ngô cao sản nhập khẩu nếu hiệu quả kinh tế tốt hơn. Đây là hướng đi phù hợp với tư duy quản trị nguyên liệu hiện đại: không phụ thuộc hoàn toàn vào một loại đầu vào, mà lựa chọn phương án tối ưu theo từng thời điểm thị trường. Khi nguồn ngô nhập khẩu có sản lượng dồi dào, giá thành ổn định và logistics thuận lợi, đây có thể trở thành lựa chọn bổ sung giúp nhà máy vận hành linh hoạt hơn.

Điểm thuận lợi lớn của Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất là vị trí liền kề Nhà máy Lọc dầu (NMLD) Dung Quất. Ethanol sau khi được sản xuất có thể được chuyển sang hệ thống tiếp nhận, pha chế và xuất bán của NMLD Dung Quất để phối trộn với xăng nền. Việc kết nối trực tiếp giữa nguồn ethanol và hạ tầng lọc dầu giúp giảm chi phí logistics, rút ngắn khâu trung gian và tăng tính chủ động trong tổ chức sản xuất.

Ở khâu tiếp theo, NMLD Dung Quất đảm nhận việc tiếp nhận ethanol, phối trộn với xăng nền để tạo ra sản phẩm xăng E10 RON95 đạt chuẩn trước khi đưa ra thị trường. Đây là công đoạn có ý nghĩa quyết định, bởi xăng sinh học không chỉ cần đủ nguồn nguyên liệu mà còn phải bảo đảm chất lượng ổn định trong quá trình phối trộn, lưu kho, vận chuyển và xuất bán.

 
Nhân sự vận hành các phân xưởng sản xuất ethanol tại Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất

Theo thông tin từ Tổng công ty lọc hóa dầu Việt Nam (BSR), Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đã rà soát, kiểm tra hệ thống kho bãi, bồn chứa, hạ tầng phối trộn và hệ thống xuất bán để đáp ứng yêu cầu cung ứng xăng E10. Từ tháng 5/2026, BSR đã xuất bán xăng E10 RON95 bằng cả đường bộ và đường biển. Đáng chú ý, ngày 20/5, doanh nghiệp xuất bán thành công lô xăng E10 RON95 đầu tiên bằng đường biển tại cảng Jetty Nhà máy Lọc dầu Dung Quất. Việc mở thêm phương thức xuất bán bằng đường biển giúp tăng khả năng cung ứng với quy mô lớn, mở rộng phạm vi phân phối ra thị trường.

Ông Lê Hải Tuấn, Phó Giám đốc NMLD Dung Quất cho biết, hiện Nhà máy đang vận hành ở công suất tối ưu để sản xuất các sản phẩm xăng dầu, trong đó có xăng RON95 phối trộn với ethanol nhiên liệu để tạo ra sản phẩm E10 RON95 xuất bán cho khách hàng. Thời gian qua, BSR đã chủ động rà soát, kiểm tra toàn bộ hệ thống kho bãi, bồn chứa, hạ tầng phối trộn và hệ thống xuất bán nhằm tăng cường năng lực cung ứng bằng đường biển.

Tính cả đường bộ và đường biển, BSR sản xuất và xuất bán khoảng 80.000-100.000 m3 xăng E10 RON95 mỗi tháng từ tháng 5/2026 và các tháng tiếp theo. Trong đó, sản lượng xuất bán bằng đường bộ khoảng 15.000-20.000 m3/tháng, phần còn lại chủ yếu qua đường biển. Đây là khối lượng đáng kể trong bối cảnh thị trường xăng dầu bước vào giai đoạn chuyển đổi từ bán thử nghiệm sang kinh doanh đại trà xăng E10.

Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ

Hà Nội mở cổng giao dịch điện tử cho doanh nghiệp

Hà Nội đang nghiên cứu, triển khai Cổng gửi nhận văn bản giữa tổ chức, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước nhằm giảm hồ sơ giấy, rút ngắn thời gian xử lý và mở rộng giao dịch hành chính trên môi trường số.

Tín dụng xanh tăng gấp 4,6 lần, doanh nghiệp nhỏ vẫn đứng ngoài cuộc

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, dư nợ tín dụng xanh đã đạt 828.000 tỷ đồng, gấp 4,6 lần so với năm 2017. Tuy nhiên, TS. Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) cho rằng, dòng vốn này vẫn chủ yếu tập trung vào các dự án quy mô lớn, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn do vướng mắc về cơ chế, dữ liệu và điều kiện vay vốn.

Kinh tế Việt Nam không thể chủ quan với nguy cơ 'bốn chậm'

TS Nguyễn Bích Lâm - nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê nhận định, nguy cơ “bốn chậm” của nền kinh tế gồm: chậm cải cách thể chế, chậm tái cơ cấu nền kinh tế, chậm nâng cao hiệu quả đầu tư và chậm tăng cường năng lực nội sinh có thể ảnh hưởng tới chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của Việt Nam trong dài hạn nếu không được khắc phục kịp thời.

Chế biến sâu và chuyển đổi số: Động lực tăng trưởng mới trong thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc

Diễn đàn Kết nối thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc lần thứ nhất là dịp để cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp hai nước trao đổi giải pháp thúc đẩy thương mại nông sản theo hướng hiện đại, bền vững, trong đó chế biến sâu và chuyển đổi số được xác định là những động lực tăng trưởng mới.

Giải bài toán vốn giai đoạn 2026 - 2030

Để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam sẽ phải giải bài toán tìm kiếm nguồn vốn dài hạn đủ lớn cho đầu tư phát triển.

Video