Tổng tài sản hệ thống ngân hàng biến động thế nào trong năm 2018?

Tính đến hết tháng 12/2018, tổng tài sản có toàn hệ thống đã đạt 11,06 triệu tỷ đồng, tăng 10,62% so với mức đạt được hồi cuối năm 2017.
Tổng tài sản hệ thống ngân hàng biến động thế nào trong năm 2018?


NHNN vừa công bố một số chỉ tiêu cơ bản trong hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2018.

Theo đó, tính đến hết tháng 12/2018, tổng tài sản có toàn hệ thống đã đạt 11,06 triệu tỷ đồng, tăng 2,4% so với tháng 11 và tăng 10,62% so với mức đạt được hồi cuối năm 2017.

Trong đó, tổng tài sản có của khối NHTM Nhà nước (gồm AgriBank, VietinBank, Vietcombank, BIDV, Ngân hàng Xây dựng, Dầu khí Toàn cầu, ngân hàng Đại Dương) dù vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (43,95%), đạt gần 4,9 triệu tỷ đồng nhưng có mức tăng trưởng chậm nhất trong các nhóm, với mức tăng 6,42% so với cuối năm trước.

Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần có tổng tài sản có tăng 13,07%, lên mức gần 4,6 triệu tỷ đồng trong khi tại nhóm ngân hàng liên doanh, nước ngoài cũng ghi nhận tài sản có tăng tới 19,12%, lên 1,1 triệu tỷ đồng.

Tổng tài sản hệ thống ngân hàng biến động thế nào trong năm 2018? - Ảnh 1.

Vốn tự có của toàn hệ thống cũng tiếp tục tăng nhẹ trong tháng 12. Cụ thể, đến cuối tháng 12, vốn tự có của toàn hệ thống đạt hơn 806,1 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng 11 và tăng 12,89% so với cuối năm 2017.

Đóng góp trong mức tăng này chủ yếu do vốn tự có của khối NHTMCP tăng 16,36%, đạt gần 338,2 nghìn tỷ đồng, của nhóm ngân hàng liên doanh, nước ngoài tăng 14,82%, đạt gần 162,9 nghìn tỷ đồng. Riêng vốn tự có của nhóm NHTM Nhà nước chỉ tăng 5,48% trong năm qua, lên gần 268,6 nghìn tỷ đồng.

Xét về vốn điều lệ , nhóm NHTM Nhà nước hầu như không có thay đổi trong năm qua, ở mức 147,89 nghìn tỷ đồng. Trong khi đó, vốn của nhóm NHTMCP lại tăng tới 24,42%, đạt 267,2 nghìn tỷ đồng, của nhóm ngân hàng liên doanh, nước ngoài đạt 113,4 nghìn tỷ, tăng 3,49% trong khi của nhóm công ty tài chính, cho thuê đạt 26,4 nghìn tỷ đồng, tăng tới 17,24% so với cuối năm trước.

Quy mô vốn điều lệ và vốn tự có của khối NHTM Nhà nước tính đến cuối năm 2018 thấp hơn nhiều so với nhóm NHTMCP nhưng quy mô tổng tài sản lại cao hơn. Điều này khiến cho tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của khối chỉ ở mức 9,52% vào cuối 2018, thấp hơn nhiều so với mức 11,24% của khối NHTMCP.

Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn của toàn hệ thống tính đến cuối năm ở mức 28,41%, trong đó, tỷ lệ này của nhóm NHTM Nhà nước là 30,7%, của nhóm NHTMCP là 32,67% và của công ty tài chính, cho thuê là 34,9%.

Trong khi đó, về khả năng sinh lời của các nhà băng, số liệu cập nhật đến hết quý III/2018 cho thấy, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cao nhất thuộc về nhóm công ty tài chính, cho thuê với 3,02%, đứng thứ hai là Ngân hàng chính sách xã hội với ROA đạt 1,02%.

ROA của nhóm NHTM Nhà nước ở mức khá thấp, đạt 0,52%, chỉ đứng trên Ngân hàng Hợp tác xã (0,42%) và thấp hơn ROA trung bình của toàn hệ thống là 0,7%. ROA của nhóm NHTMCP đạt 0,76% và của ngân hàng Liên doanh, nước ngoài là 0,88%.

Đối với chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), nhóm các công ty tài chính, cho thuê cũng đang dẫn đầu với 13,83%, tiếp đến là Quỹ tín dụng nhân dân với mức 12,95%.

ROE của các ngân hàng thương mại Nhà nước đạt 10,21% và của khối NHTMCP là 9,88%, cao hơn mức ROE trung bình toàn ngành là 9,06%.

Theo Trần Thúy (Bizlive)

Mã hóa tài sản thực: Chia nhỏ tài sản, mở rộng quyền tiếp cận cho nhà đầu tư

Mã hóa tài sản thực (RWA) đang mở ra cơ hội hình thành một kênh huy động vốn mới cho doanh nghiệp thông qua công nghệ blockchain. Theo các chuyên gia, nếu sớm hoàn thiện hành lang pháp lý và có lộ trình triển khai phù hợp, Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia sâu hơn vào thị trường tài sản số toàn cầu trị giá hàng nghìn tỷ USD.

VIFC-HCMC ghi nhận 20 tỷ USD cam kết đầu tư

VIFC-HCMC chính thức đi vào hoạt động từ ngày 11/2, sau 6 tháng đã ghi nhận khoảng 20 tỷ USD vốn cam kết từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Quy định về hoạt động bảo hiểm tiền gửi

Chính phủ ban hành Nghị định số 280/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý, đầu tư vốn nhà nước, giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn tại Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.

Việt Nam có thể phải chờ tới năm sau để vào Watch List của MSCI

Theo ông Nguyễn Thế Minh, con đường vào Watch List của MSCI có thể chưa rộng mở với Việt Nam trong năm nay, khi nút thắt lớn nhất của thị trường là vấn đề room ngoại chưa được xử lý triệt để. Trong khi đó, vấn đề free-float cũng đang nổi lên như một tiêu chí có sức nặng trong hệ thống đánh giá của MSCI.

Video