Rừng trồng gỗ lớn “làm khó” doanh nghiệp nhỏ

Trong khi, những bức xúc của người trồng rừng và doanh nghiệp (DN) chế biến xuất khẩu gỗ và lâm sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An chưa tìm được lời giải thì mới đây họ tiếp tục vướng bởi những chủ trương quy hoạch rừng trồng gỗ lớn.

[caption id="attachment_34650" align="aligncenter" width="588"]Việc trồng rừng gỗ nhỏ trên địa bàn không chỉ đáp ứng nhu cầu thực tế của nhiều hộ trồng rừng, mà còn phù hợp với năng lực tài chính cũng như quy mô phát triển của phần lớn các DN trong lĩnh vực gỗ vầ lâm sản trên địa bàn tỉnh. Ảnh: Rừng trồng ở Qùy Châu, Nghệ An Việc trồng rừng gỗ nhỏ trên địa bàn không chỉ đáp ứng nhu cầu thực tế của nhiều hộ trồng rừng, mà còn phù hợp với năng lực tài chính cũng như quy mô phát triển của phần lớn các DN trong lĩnh vực gỗ vầ lâm sản trên địa bàn tỉnh. Ảnh: Rừng trồng ở Qùy Châu, Nghệ An[/caption]

Theo quy hoạch phát triển rừng trồng nguyên liệu trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2025 tầm nhìn 2030, tỉnh sẽ trồng 139.821 ha rừng kinh doanh gỗ lớn phục vụ cho chế biến, xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản. Trong đó, diện tích trồng rừng nguyên liệu kinh doanh gỗ lớn là 139.821 ha, kinh doanh gỗ nhỏ là 143.741ha.

Chính quyền kỳ vọng

Diện tích quy hoạch trên, với chính quyền địa phương được xem là một giải pháp tối ưu cả về mặt quản lý và hiệu quả kinh tế. Đại diện lãnh đạo ngành NN – PTNT Nghệ An cho biết, từ phân tích hiệu quả tài chính của hai phương án trồng rừng ở các địa phương như: Yên Bái, Quảng Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Bắc Giang… cho thấy, phương án gỗ lớn có hiệu quả cao hơn so với phát triển rừng gỗ nhỏ. Bởi lẽ, nếu làm một bài toán so sánh 300ha rừng keo và thông được trồng từ 15 – 18 năm có trữ lượng lớn, sản lượng gỗ ước đạt 240m3/ha, trị giá 360 triệu đồng. Trong khi đó, một chu kỳ khai thác rừng trồng keo và thông cho gỗ nhỏ (bình quân 6 năm sẽ khai thác) chỉ đạt sản lượng 80 m3, trị giá 60 triệu đồng.

Mặt khác, hiện nay các thị trường nhập khẩu đồ nội thất và mỹ nghệ của VN đều yêu cầu sản phẩm sản xuất từ gỗ được cấp chứng chỉ. Để có chứng chỉ này, bắt buộc phải là gỗ khai thác từ những nơi có chứng chỉ rừng mà để được cấp chứng rừng thì phải là rừng gỗ lớn. Vì thế, để chủ động nguồn cung trong nước cho chế biến đồ gỗ nội thất và mỹ nghệ, không có cách nào khác, phải phát triển rừng gỗ lớn – vị đại diện này chia sẻ. Không phủ nhận lợi ích kinh tế từ việc quy hoạch rừng trồng gỗ lớn. Tuy nhiên, quy hoạch này lại đang đi ngược với nguyện vọng của phần lớn người trồng rừng cũng như các DN chế biến gỗ và lâm sản trên địa bàn tỉnh.

DN nhiều “mắc mớ”

Theo tìm hiểu của DĐDN tại một số huyện như: Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp cho thấy, tâm lý của nhiều chủ rừng vẫn muốn phát triển rừng gỗ nhỏ. Bởi lẽ, phát triển loại gỗ này sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho các hộ trồng rừng do có nguồn thu nhanh hơn, có thể sớm quay vòng đầu tư tiếp, thay vì chỉ nhận một lần thu nhập nếu phát triển rừng gỗ lớn. Hơn nữa, thu hoạch từ rừng chồi cũng được người trồng rừng cho là hiệu quả hơn so với khai thác gỗ lớn. Anh Thuận – một chủ rừng tại huyện Nghĩa Đàn cho biết, đa số người trồng rừng tại đây đều có thu nhập thấp, không đủ điều kiện tài chính để theo chu kỳ khai thác dài, cho gỗ lớn. Do có thu nhập thấp nên nhiều người trồng rừng rất khó đáp ứng các điều kiện vay vốn của ngân hàng… Điều này khiến anh Thuận, cũng như nhiều hộ trồng rừng tại đây phải khai thác gỗ khi đáp ứng được yêu cầu băm dăm và làm bột giấy để có thể trả lãi, vốn vay từ ngân hàng hoặc vay tư nhân. “Nếu trồng rừng với thời gian từ 15 – 18 năm mới cho thu hoạch sẽ vượt khả năng đáp ứng của nhiều hộ trồng rừng tại đây” – anh Thuận chia sẻ.

Đồng quan điểm, một DN chế biến xuất khẩu gỗ và các phụ phẩm từ gỗ trên địa bàn tỉnh cũng cho rằng, việc trồng rừng gỗ nhỏ trên địa bàn không chỉ đáp ứng nhu cầu thực tế của nhiều hộ trồng rừng, mà còn phù hợp với năng lực tài chính cũng như quy mô phát triển của phần lớn các DN trong lĩnh vực gỗ vầ lâm sản trên địa bàn tỉnh (với hơn 90% là DN vừa và nhỏ). Hơn nữa, với đặc thù gỗ keo nếu kéo dài thời gian thu hoạch chờ nó lớn thì hiệu quả sử dụng sẽ không cao, vì bên trong thân gỗ sẽ bị rỗng, không dùng cho việc xẻ gỗ lớn cũng như chế biến các đồ gỗ.

Thừa nhận, lợi ích kinh tế từ việc quy hoạch rừng trồng gỗ lớn. Song, theo chuyên gia kinh tế lâm nghiệp, ông Vũ Long, trong bối cảnh thực tế như hiện nay của Nghệ An chỉ nên quy hoạch diện tích rừng trồng gỗ lớn dưới 1.000 hecta và theo lộ trình của từng giai đoạn có thể điều chỉnh tăng dần.

Đặc biệt, để quy hoạch phát triển rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả như kỳ vọng, ngành nông nghiệp cũng như các ngành liên quan cần có những đánh giá sâu và toàn diện về thực trạng của ngành chế biến xuất khẩu gỗ hiện nay trên địa bàn tỉnh trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Theo Nhật Minh (DĐDN)

Kỳ tiếp: Chính quyền tỉnh Nghệ An nói gì?

Tags:

GDP quý II/2026 tăng trưởng khá, ước đạt 8,39%

Tại Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026 diễn ra sáng 3/7, Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho biết tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2026 đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước.

Định hình diện mạo thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm

Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm đã được công bố cùng nhiều mục tiêu phát triển dài hạn. Điều được nhấn mạnh tại hội nghị vừa diễn ra tại Hà Nội không chỉ là những con số hay định hướng, mà còn là yêu cầu chuyển hóa quy hoạch thành các dự án và kết quả phát triển cụ thể.

Việt Nam có khả năng sản xuất 1 triệu thùng nhiên liệu hàng không bền vững SAF mỗi ngày

Đánh giá triển vọng của ngành SAF Việt Nam trong giai đoạn 2030-2050, bà Sharmine Tan, Giám đốc Phát triển bền vững và Chính sách khu vực Đông Nam Á của Boeing cho rằng với nguồn phụ phẩm từ lúa gạo và sắn phong phú, Việt Nam có khả năng sản xuất khoảng 1 triệu thùng SAF mỗi ngày.

Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam không phải là 'Dubai tiếp theo'

Theo VinaCapital, VIFC được định vị là kênh thu hút dòng vốn quốc tế phục vụ nhu cầu phát triển của nền kinh tế, thay vì trở thành trung tâm quản lý tài sản toàn cầu như mô hình Dubai. Với nhu cầu vốn đầu tư ước tính khoảng 1,5 nghìn tỷ USD, VIFC được kỳ vọng sẽ đóng vai trò kết nối dòng vốn ngoại với các dự án hạ tầng và công nghiệp trọng điểm của Việt Nam.

Video