Nhiều nhà đầu tư nước ngoài khai vống vốn FDI lớn để xí chỗ chứ không thực hiện

Vẫn biết số vốn FDI đăng ký và thực hiện rất khó trùng khớp nhau, tuy nhiên, để xảy ra sư chênh lệch quá lớn như ở Việt Nam là điều cần phải xem xét lại.
[caption id="attachment_22552" align="aligncenter" width="495"]Nhà đầu tư ôm đất 10 năm chưa hoàn thành dự án. Dự án thép Guang Lian Dung Quất bị đề nghị chấm dứt hoạt động. [/caption]

Số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy lũy kế từ năm 1988 cho đến hết tháng 7.2016, Việt Nam thu hút khoảng 20.000 dự án FDI, với vốn đăng ký khoảng 293 tỉ USD, nhưng vốn thực hiện chỉ khoảng 150 tỉ USD, như vậy còn khoảng 130 tỉ USD là vốn chưa thực hiện.

Một số dự án điển hình có thể kể đến như dự án Lọc dầu Vũng Rô (vốn đầu tư 3,2 tỉ USD) ở Phú Yên chưa triển khai; dự án thép của Guang Lian (3 tỉ USD) ở Quảng Ngãi vừa bị chấm dứt đầu tư mà chưa làm thủ tục thu hồi; dự án Thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya, vốn đầu tư 2 tỉ USD; dự án Saigon Atlantis Hotel có vốn đăng ký 4,1 tỉ USD; dự án Trung tâm Hội nghị triển lãm du lịch quốc tế Dragon Sea, vốn đầu tư 900 triệu USD đã được cấp chứng nhận đầu tư mà vẫn chưa triển khai; dự án Hóa dầu Long Sơn vốn đầu tư lên tới 4,5 tỉ USD nhưng còn đang thu xếp... vốn.

Trao đổi với PV, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng hiện nay vốn thực hiện chỉ bằng chưa đến một nửa so với vốn đăng ký. Việc chênh lệch quá lớn giữa số vốn FDI đăng ký và số vốn thực hiện là điều cần phải khắc phục, điều chỉnh, thu hẹp lại.

Theo ông Long, các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam đầu tư, họ đăng ký vốn lớn mục đích là để xin ưu đãi về đất đai, thuế… hoặc muốn được giải quyết thủ tục nhanh chóng. Tuy nhiên, sau khi có được những ưu đãi đó, vì nhiều lý do, họ rót vốn rất ít, thậm chí nhiều dự án tới 5-10 năm vẫn chưa thực hiện.

Nguyên nhân có thể là khi vào đầu tư họ cảm thấy không hiệu quả nên không tiếp tục rót thêm vốn. Bên cạnh đó, có thể do chính những doanh nghiệp này không đủ nguồn lực, năng lực để tiếp tục tiến hành đầu tư nên họ buộc phải dừng lại và rút khỏi thị trường.

Trong khi đó, phía Việt Nam cũng không đánh giá đúng năng lực của nhà đầu tư, chủ yếu là cấp phép dựa trên nguyện vọng của họ mà thôi, khâu thẩm định, điều tra năng lực của nhà đầu tư còn khá hạn chế.

“Điều này sẽ ảnh hưởng đến công tác dự báo, điều chỉnh chính sách của Nhà nước. Nếu con số không thật thì dự báo cũng dễ bị sai sót, không đúng với thực tế, dẫn đến các kế hoạch đề ra bị ảnh hưởng” – ông Long nói.

Còn theo GS-TS Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, không chỉ mong muốn hưởng ưu đãi, nhiều dự án được đăng ký với số vốn lớn ban đầu lại có mục đích chờ để bán lại, hưởng chênh lệch. Khi họ không tìm được nhà đầu tư khác để nhượng lại thì họ bỏ đi. Đây chính là những dự án ảo, dấu hiệu của những dự án này là khi được cấp phép nhiều năm mà họ vẫn không tiến hành xây dựng, sản xuất.

Vừa qua, trả lời PV, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cũng nhận định nhà đầu tư nước ngoài khai vống vốn lên như vậy để được sử dụng nhiều đất, gây lãng phí cho Việt Nam, tạo tiền lệ xấu cho việc "đi đêm" giữa người cấp đất (chính quyền địa phương) và nhà đầu tư.

Ngoài ra, theo bà Lan, việc khai vống vốn để lợi dụng vào đó trốn thuế, nhưng quan trọng hơn là tạo nên sự ảo trong nguồn tiền đổ vào Việt Nam, ảo về số vốn có được. Cái ảo này khiến cho những nhà đầu tư thật sự, đàng hoàng không thể vào Việt Nam được vì thấy trong những lĩnh vực của mình đã có nhà đầu tư khác hiện diện với số vốn rất lớn. Họ không còn thấy hấp dẫn để vào Việt Nam nữa, vô hình trung Việt Nam đã gạt những nhà đầu tư đàng hoàng ra để kéo những nhà đầu tư cơ hội vào.

Do đó, theo GS Nguyễn Mại, Việt Nam cần phải có sự ràng buộc với các doanh nghiệp FDI, có thể bằng nhiều hình thức, ví dụ như ký quỹ.

Theo tìm hiểu của phóng viên, nhiều dự án đầu tư vào Việt Nam đều phải ký quỹ với một tỷ lệ nhất định. Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp FDI không thực hiện đầu tư thì họ mới mất khoản ký quỹ này, còn nếu họ thực hiện nhưng với mức độ thấp so với mức đăng ký rồi rút đi thì không mất khoản tiền này. Thậm chí, ở nhiều địa phương, các khi các doanh nghiệp FDI đầu tư còn không phải ký quỹ, do đó khi họ rời đi, không rót vốn như cam kết thì coi như mất trắng.

Nói với PV, ông Ngô Trí Long cho rằng Việt Nam cần phải có những cam kết với nhà đầu tư, nếu họ không thực hiện thì cần phải có chế tài xử lý phù hợp.

Ngoài ra, theo ông Long, thay vì chú ý đến thành tích ảo của số vốn đăng ký, cần thay đổi đo lường hiệu quả thu hút vốn đầu tư FDI bằng số vốn thực tế mà nhà đầu tư đã chuyển vào Việt Nam. Nếu tiếp tục coi trọng vốn đăng ký thì sẽ khó hình thành chính sách thu hút vốn FDI đúng chất lượng.

Theo Một thế giới

Tags:

“Chìa khóa” thúc đẩy điện gió ngoài khơi

Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa năng lượng truyền thống dần thu hẹp, dù được kỳ vọng trở thành trụ cột mới, tuy nhiên, việc phát triển điện gió ngoài khơi vẫn còn đó những tồn tại.

Tăng tốc hút vốn tư nhân cho kinh tế số

Theo báo cáo thường niên của Google, Temasek và Bain & Company, vốn tư nhân đầu tư vào nền kinh tế số Đông Nam Á trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,7 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Video