EVFTA cơ hội lớn và cũng đầy chông gai cho cá ngừ Việt Nam

Ngay sau khi EVFTA được ký kết, mức thuế sẽ được gỡ bỏ ngay lập tức hoặc giảm dần về 0% từ 3-7 năm,... đây là cơ hội để giúp nâng tính cạnh tranh cho các mặt hàng cá ngừ của Việt Nam trong khối thị trường EU.

EVFTA cơ hội lớn và cũng đầy chông gai cho cá ngừ Việt Nam

Ảnh minh họa.

Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP) cho biết, Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam – EU (EVFTA) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với ngành Thủy sản Việt Nam nói chung, và ngành cá ngừ nói riêng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng tăng như hiện nay.

Theo đó, cá ngừ hiện đang là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam sang EU. Trong 10 năm qua, EU luôn là thị trường xuất khẩu cá ngừ lớn thứ 2 của Việt Nam. Mỗi năm xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang EU trung bình đạt khoảng 110 triệu USD. Sau khi Việt Nam chính thức kết thúc đàm phán với EU vào năm 2015, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang khối thị trường này đã tăng trưởng liên tục, giá trị xuất khẩu tăng từ 97 triệu USD (năm 2015) lên hơn 158 triệu USD (năm 2018).

Riêng 3 tháng đầu năm 2019 do vướng mắc trong các thủ tục nhập khẩu nguyên liệu, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang EU có sụt giảm. Nhưng sau đó đã tăng trưởng trở lại trong tháng 4 và tháng 5. Tính riêng trong tháng 5, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang EU đạt gần 12 triệu USD, tăng 6% so với tháng 5/2018. Trong số các nước EU, xuất khẩu sang Hà Lan tiếp tục tăng trưởng ấn tượng, tăng 107% trong tháng này.

EVFTA cơ hội lớn và cũng đầy chông gai cho cá ngừ Việt Nam - Ảnh 1.

Theo số liệu thống kê của Trung tâm Thương mại Thế giới (ITC), Việt Nam đang là nguồn cung cá ngừ chế biến đóng hộp lớn thứ 14 và là nguồn cung thăn/philê cá ngừ đông lạnh lớn thứ 2 cho EU. Các sản phẩm cá ngừ của Việt Nam xuất khẩu sang các nước EU đang khó cạnh tranh được với các nước như Philippines, Ecuador vì phải chịu mức thuế cao từ 18 – 24%. Ngay sau khi EVFTA được ký kết, mức thuế này sẽ được gỡ bỏ ngay lập tức, hoặc cắt giảm dần dần về 0% sau từ 3-7 năm, hoặc miễn thuế theo hạn ngạch, đây là cơ hội để giúp nâng cao tính cạnh tranh cho các mặt hàng cá ngừ của Việt Nam tại khối thị trường này.

Tuy nhiên, EVFTA không chỉ mang lại cho ngành cá ngừ Việt Nam cơ hội mà còn cả những thách thức. Ngành cá ngừ Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập như hoạt động khai thác vẫn ở quy mô nhỏ lẻ, manh mún dẫn đến hiệu quả khai thác thấp, thiếu tính bền vững, cạnh tranh sản phẩm thấp cả về giá bán và chất lượng. Thêm nữa, thẻ vàng của Ủy ban Liên minh châu Âu (EC) đối với lĩnh vực khai thác hải sản Việt Nam ngày 23/10/2017 cũng là một bất lợi.

Bên cạnh đó, theo EVFTA, các sản phẩm cá ngừ xuất khẩu của Việt Nam sang EU muốn được hưởng thuế suất ưu đãi của Hiệp định cần phải có xuất xứ thuần túy tức là cá ngừ phải được đánh bắt bởi các tàu mang cờ của Việt Nam tại vùng biển của Việt Nam. Trong khi đó nguồn cá ngừ nguyên liệu trong nước đang không đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất, xuất khẩu, hầu hết phải nhập khẩu từ các nước khác, mạng lưới cung cấp nguyên liệu cũng đang được cải thiện. Do đó, việc đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ sẽ là một thử thách đối với ngành cá ngừ Việt Nam trong thời gian tới.

Ngoài ra, EVFTA còn tạo ra một số thách thức khác như: hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), để có thể xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU, nước xuất khẩu phải tuân thủ các nguyên tắc TBT trong quy trình chế biến, đóng gói sản phẩm và bảo vệ môi trường; Quy tắc xuất xứ của sản phẩm (ROO): các doanh nghiệp thủy sản cần lưu ý đến một số quy định về xuất xứ (hàng hóa xuất khẩu sang EU được quá cảnh tại nước thứ ba không bị thay đổi và phải được bảo quản trong điều kiện tốt hoặc được dán nhãn, niêm phong để đảm bảo sự tuân thủ theo yêu cầu của nước nhập khẩu; giấy tờ chứng minh sự tuân thủ theo quy tắc không chuyển đổi có thể được yêu cầu trong trường hợp phát sinh nghi vấn; thủ tục cấp chứng nhận xuất xứ); Dán nhãn đối với các sản phẩm thực phẩm, doanh nghiệp phải cung cấp cho người mua thông tin chính xác về nguồn gốc của sản phẩm…

Theo Tài chính Plus

Tăng tốc hút vốn tư nhân cho kinh tế số

Theo báo cáo thường niên của Google, Temasek và Bain & Company, vốn tư nhân đầu tư vào nền kinh tế số Đông Nam Á trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,7 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Xuất khẩu thuỷ sản tái cấu trúc năm 2026

Mặc dù ghi nhận những cú bật trong khó khăn của năm 2025, thủy sản Việt Nam hướng tới 2026 thận trọng bởi các yếu tố chu kỳ của thị trường, chuyển dịch cơ cấu thị trường và sản phẩm.

Phát huy vai trò nòng cốt, trụ cột phát triển kinh tế của ngành Công Thương trong kỷ nguyên mới

Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Phan Thị Thắng - Thứ trưởng Bộ Công Thương - đã trả lời phỏng vấn báo chí, làm rõ vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành Công Thương trong phát triển kinh tế đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia cũng như những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.

Video