Công bố báo cáo phân tích giáo dục Việt Nam trong 1 thập kỷ

Báo cáo phân tích giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đưa ra nhiều số liệu và phân tích số liệu ở các bậc học từ mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục đại học với các khảo sát toàn diện và có tính điển hình theo vùng miền, khu vực, đối tượng…
Công bố phân tích giáo dục Việt Nam trong 1 thập kỷ - Ảnh 1.

Hội thảo công bố Báo cáo phân tích giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Ngày 8/8, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã công bố Báo cáo phân tích ngành giáo dục giai đoạn 2011-2020 .

Tại hội thảo công bố Báo cáo, GS. Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, đưa ra số liệu cơ sở giáo dục đại học (gồm cơ sở đào tạo trình độ cao đẳng - trừ cao đẳng nghề, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ) tăng mạnh sau năm 2005.

Theo đó, từ sau năm 2010, quy mô đào tạo chỉ tăng nhẹ và giảm ở giai đoạn từ năm 2014-2019. Cụ thể, so với năm 2010, chỉ số phát triển quy mô đào tạo đại học là 105,3%. Tỉ lệ này ở năm 2015 là 53,7% và ở năm 2019 là 52,7%.

Ông Lê Anh Vinh giải thích lý do số liệu năm 2015 sụt mạnh so với năm 2014 là do các cơ sở đào tạo trình độ cao đẳng về hệ thống giáo dục nghề nghiệp do Bộ LĐTB&XH quản lý.

Tương tự, so với năm 2010, quy mô sinh viên cũng tăng trưởng mạnh hơn vào năm 2014 (bằng 109,3%). Chỉ số này giảm nhẹ vào năm 2018 (70,2%) và lại tiếp tục nhích lên vào năm 2019 (79%).

Một chỉ số khác cho thấy, năm 2018 có 108.527 du học sinh Việt Nam ở nước ngoài, bằng 3,6% tổng số sinh viên Việt Nam. Bình luận của nhóm nghiên cứu cho rằng chỉ số này cho thấy Việt Nam đã bắt kịp xu thế và đạt mức trung bình trong số các nước có tỉ lệ nhập học thô tương đương.

Báo cáo cho biết tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học tăng mạnh ở những năm 2015-2016 và giảm nhẹ ở năm 2019.

Đáng chú ý là ở một số ngành nghề, trình độ của sinh viên tốt nghiệp của những cơ sở như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TPHCM, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội… đã tiếp cận trình độ sinh viên tốt nghiệp của các trường đại học trong khu vực.

Báo cáo cung cấp số liệu năm 2018, tỉ lệ sinh viên của 181 cơ sở đại học và 40 trường cao đẳng có việc làm sau khi tốt nghiệp là 65,5%. Nhưng tỉ lệ thất nghiệp của sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng cao hơn ở trình độ trung cấp.

Các chỉ số về nghiên cứu khoa học, xếp hạng trường đại học tại báo cáo trên cho thấy Việt Nam bị bỏ xa so với nhiều nước trong khu vực. Theo bảng xếp hạng Times Higher Education gần đây, Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Bách khoa Hà Nội lọt vào top 1.000 trường đại học hàng đầu thế giới.

Nhưng theo bảng tổng hợp vị trí các cơ sở đại học trong một số bảng xếp hạng top 1.000, Việt Nam vẫn ở vị trí cuối cùng. Cụ thể, Việt Nam chỉ có 2 trường trong top 1.000 trường đại học bảng xếp hạng QS (Quacquarelli Symonds) và 2 trường lọt vào top 1.000 trường đại học bảng xếp hạng THE (xếp hạng Times Higher Education). Trong khi đó, con số này của Trung Quốc lần lượt là 40 và 63, Vương quốc Anh là 76 và 92, Đức là 45 và 47, Nhật Bản là 44 và 51, Hàn Quốc là 30 và 24, Malaysia là 13 và 9…

Nhận định của nhóm nghiên cứu cho rằng, hoạt động nghiên cứu khoa học của trường đại học Việt Nam có sự cải thiện đáng kể trong một thập kỷ qua.

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cho rằng nguồn tài chính công dành cho giáo dục đại học của Việt Nam chưa tương xứng với mục tiêu phát triển quốc gia trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2035.

Theo bảng số liệu trong báo cáo, tổng GDP quốc gia là 5.006 nghìn tỷ đồng. Trong đó chi cho giáo dục (không bao gồm học phí) là 247.000 tỷ đồng (riêng chi cho giáo dục đại học là 17.000 tỷ đồng).

Một số liệu tại báo cáo cho biết từ năm 2008-2018 (10 năm), đóng góp từ các hộ gia đình cho giáo dục đại học tăng gấp đôi.

Báo cáo cũng cho rằng, trường đại học và viện nghiên cứu vẫn hoạt động độc lập, việc giảng dạy tách khỏi nghiên cứu công lập. Nguồn nhân lực và tài chính bị phân tán nên không thể hình thành sự xuất sắc trong nghiên cứu và giảng dạy.

Nhóm nghiên cứu kiến nghị cần phát triển giáo dục đại học theo hướng tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao có khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, có tư duy đổi mới sáng tạo và đóng góp vào phát triển kinh tế-xã hội và nghiên cứu khoa học kỹ thuật.

Theo Nhật Nam (Chinhphu.vn)

Định hình diện mạo thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm

Quy hoạch Thủ đô với tầm nhìn 100 năm đã được công bố cùng nhiều mục tiêu phát triển dài hạn. Điều được nhấn mạnh tại hội nghị vừa diễn ra tại Hà Nội không chỉ là những con số hay định hướng, mà còn là yêu cầu chuyển hóa quy hoạch thành các dự án và kết quả phát triển cụ thể.

Việt Nam có khả năng sản xuất 1 triệu thùng nhiên liệu hàng không bền vững SAF mỗi ngày

Đánh giá triển vọng của ngành SAF Việt Nam trong giai đoạn 2030-2050, bà Sharmine Tan, Giám đốc Phát triển bền vững và Chính sách khu vực Đông Nam Á của Boeing cho rằng với nguồn phụ phẩm từ lúa gạo và sắn phong phú, Việt Nam có khả năng sản xuất khoảng 1 triệu thùng SAF mỗi ngày.

Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam không phải là 'Dubai tiếp theo'

Theo VinaCapital, VIFC được định vị là kênh thu hút dòng vốn quốc tế phục vụ nhu cầu phát triển của nền kinh tế, thay vì trở thành trung tâm quản lý tài sản toàn cầu như mô hình Dubai. Với nhu cầu vốn đầu tư ước tính khoảng 1,5 nghìn tỷ USD, VIFC được kỳ vọng sẽ đóng vai trò kết nối dòng vốn ngoại với các dự án hạ tầng và công nghiệp trọng điểm của Việt Nam.

TPHCM giữ vững đà tăng trưởng, thu hút FDI tăng hơn 114%

6 tháng đầu năm 2026, TPHCM duy trì đà tăng trưởng tích cực với nhiều chỉ tiêu tăng khá; thu hút hơn 6,8 tỷ USD vốn FDI, tăng trên 114%; thu ngân sách đạt hơn 500 nghìn tỷ đồng, tương đương gần 62% dự toán năm.

Video