Chủ nhiệm UBKT Quốc hội Vũ Hồng Thanh: Đề nghị làm rõ tình hình tồn ngân Kho bạc Nhà nước

Đây là một trong những kiến nghị được Uỷ ban Kinh tế Quốc hội nêu ra trong Báo cáo thẩm tra đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2018, tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2019.
Chủ nhiệm UBKT Quốc hội Vũ Hồng Thanh: Đề nghị làm rõ tình hình tồn ngân Kho bạc Nhà nước


Về tình hình kinh tế xã hội năm 2018, theo Uỷ ban Kinh tế, đã diễn ra tương đối toàn diện. Tuy nhiên, Uỷ ban này đề nghị Chính phủ cần phân tích rõ hơn nguyên nhân khách quan, chủ quan trong việc đạt được các kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2018. Theo đó, làm rõ những yếu tố tích cực có tính chất đột biến và dài hạn để phục vụ tốt cho công tác điều hành kinh tế -xã hội năm 2019 và các năm tiếp theo.

Bên cạnh đó cần đánh giá kỹ kết quả, đóng góp của ngành du lịch trong thời gian qua để có những kinh nghiệm, bài học tốt góp phần phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Uỷ ban cũng đề nghị đánh giá đầy đủ thực trạng, nguyên nhân chủ quan của 11 nhóm vấn đề hạn chế chủ yếu, nhất là vấn đề mô hình tăng trưởng chưa thực sự đổi mới, cơ cấu lại một số ngành, lĩnh vực kinh tế chưa có nhiều chuyển biến rõ nét, còn yếu tố thiếu bền vững…

Về thu chi ngân sách, Uỷ ban cho biết việc thực hiện thu ngân sách nhà nước tăng cao và vượt khoảng 8% so với dự toán của Quốc hội, đặc biệt thu ngân sách trung ương là năm vượt dự toán sau 3 năm liên tiếp hụt thu. Chi NSNN, theo cơ quan này, cơ bản tuân thủ kỷ luật tài chính, đảm bảo kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bội chi NSNN giảm so với dự toán, bằng 3,46% GDP.

Tuy nhiên, Uỷ ban cho biết nhiều ý kiến cho rằng kết quả thực hiện thu ngân sách năm 2018 còn thiếu tính bền vững, việc tăng thu phụ thuộc nhiều vào các nguồn thu ngắn hạn mà chưa thực sự phát huy từ các yếu tố cạnh tranh nội tại của nền kinh tế.

Do vậy, Uỷ ban này đề nghị báo cáo rõ hơn về việc tăng sản lượng khai thác khá lớn so với số đã báo cáo Quốc hội (tăng 240.000 tấn dầu thô). Bên cạnh đó, chất lượng công tác phân tích dự báo về kết quả thực hiện dự toán ngân sách nhà nước để xây dựng dự toán ngân sách năm sau còn hạn chế, chậm được cải thiện.

Về hoạt động chi ngân sách nhà nước, Uỷ ban đề nghị làm rõ tình hình tồn ngân Kho bạc Nhà nước và biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn vốn này, các biện pháp cơ cấu lại hệ thống quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Số chuyển nguồn vốn đầu tư công khá lớn, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm (chỉ đạt 75,8% so với dự toán Quốc hội giao) dẫn đến nguồn vốn đầu tư công tồn dư lớn, hiệu quả thấp. Một số nhiệm vụ chi giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường không đạt dự toán ở một số địa phương. Công tác triển khai chính sách, pháp luật về cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập còn chậm, có thể gây khó khăn, bị động trong quá trình tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương theo lộ trình.

Về hoạt động doanh nghiệp, theo Uỷ ban, số lượng doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh, hoạt động hoặc giải thể tăng cao, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp vừa và và doanh nghiệp ở các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội còn khó khăn. 

Bên cạnh đó, việc kết nối giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp FDI còn thiếu hiệu quả, chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa tích cực về công nghệ và tạo ra năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế, tình trạng chuyển giá, lỗ giả lãi thật, trốn thuế, gây thất thu ngân sách, tác động không tốt đến môi trường đầu tư của một số doanh nghiệp vẫn còn tồn tại, chưa được xử lý nghiêm và hiệu quả. 

Do vậy, Uỷ ban cho biết có ý kiến đề nghị Chính phủ đánh giá toàn diện chính sách ưu đãi đầu tư với doanh nghiệp FDI từ đó hoàn thiện thể chế chính sách về đầu tư nước ngoài.

Về môi trường kinh doanh, Uỷ ban cho biết theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp, những cải cách của các Bộ, ngành, địa phương đã bước đầu đi vào cuộc sống nhưng còn chậm và không đều trên các lĩnh vực, có cải cách chưa mang lại hiệu quả thực chất, chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, nhà đầu tư. Đầu tư tư nhân khó bứt phá bởi năng lực hoạt động, việc tiếp cận các nguồn tài chính còn hạn chế, thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển…

Theo Trí thức trẻ

Xây dựng bộ nhận diện hình ảnh quốc gia Việt Nam

Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 173/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. aa Zalo

Kinh tế - xã hội tiếp tục đạt kết quả tích cực ngay từ tháng đầu năm

Thời gian tới, các bộ, ngành, địa phương cần tập trung quán triệt, triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Đây là các nội dung nằm trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm được Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ tại phiên họp Chính phủ với các địa phương tháng 1/2026 diễn ra ngày 4/2.

“Chìa khóa” thúc đẩy điện gió ngoài khơi

Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng nhanh và dư địa năng lượng truyền thống dần thu hẹp, dù được kỳ vọng trở thành trụ cột mới, tuy nhiên, việc phát triển điện gió ngoài khơi vẫn còn đó những tồn tại.

Tăng tốc hút vốn tư nhân cho kinh tế số

Theo báo cáo thường niên của Google, Temasek và Bain & Company, vốn tư nhân đầu tư vào nền kinh tế số Đông Nam Á trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt 7,7 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước.

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm phát: Mục tiêu kép phải đạt được

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đã và đang theo đuổi những mục tiêu được đánh giá là “đầy tham vọng”: trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050. Điều này cho thấy quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam gắn chặt với bài toán khí hậu.

Sẵn sàng cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước sang năm 2026 – năm bản lề khởi đầu chu kỳ tăng trưởng mới giai đoạn 2026–2030, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng bền vững, dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và chất lượng thể chế, qua đó tạo nền tảng hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Video