Chính sách nới lỏng định lượng, Việt Nam chưa cần và chưa nên

Các quốc gia phát triển trên thế giới có thể sử dụng nới lỏng định lượng (QE) như một công cụ trong tình huống khẩn cấp để cứu chữa nền kinh tế đang lâm nguy. Câu hỏi đặt ra là các quốc gia có thu nhập trung bình hoặc thị trường mới nổi (emerging market) có thể làm điều tương tự?

Tờ Financial Time đưa ra luận điểm các thị trường mới nổi hoàn toàn có thể tận dụng thời điểm hiện tại để thực hiện chính sách nới lỏng định lượng do Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) mở rộng quy mô cân đối chưa từng có.

Nới lỏng định lượng là một chính sách tiền tệ độc đáo, trong đó một ngân hàng trung ương mua trái phiếu chính phủ hoặc các chứng khoán khác trong thị trường để tăng cung tiền và khuyến khích cho vay và đầu tư. 

Trên thực tế, các quốc gia như Croatia, Ba Lan và Romania đều đã khởi động các chương trình đầu tiên của họ vào đầu tháng này, Ngân hàng Trung ương Hungary đã khởi động lại chương trình mua trái phiếu.

Trong khi đó, Colombia đã trở thành quốc gia Mỹ Latinh đầu tiên thử nghiệm với QE vào tháng 3, sau đó là kế hoạch của Chile mua tới 8 tỷ USD trái phiếu, tương đương 3% GDP nước này. Ở Đông Nam Á, Indonesia cũng tung ra một gói mua trái phiếu chính phủ 38,92 tỷ USD.

Tại Việt Nam, cơ chế cung tiền tệ tương đối khác so với rất nhiều nước, ở đó có thị trường tiền tệ liên ngân hàng (thị trường 2) và thị trường huy động (thị trường 1).

Hai thị trường này có sự cách biệt tương đối xa. Ở thị trường 1, lãi suất qua đêm hiện chỉ ở mức 0,15%/năm, kỳ hạn 3 tháng chỉ ở mức 2,2%/năm.

Trong khi trên thị trường 2, mức lãi suất huy động và cho vay vẫn khá cao, khoảng 6,5%/năm cho kỳ hạn 12 tháng.

Điều này cho thấy nếu Ngân hàng Nhà nước đưa ra thêm một bước hạ lãi suất tiếp theo cũng không thể giúp lãi suất trên thị trường 1 giảm. Điều này có thể được lý giải bởi một vài nguyên nhân sau:

Thứ nhất, do tăng trưởng tín dụng thấp 

Tăng trưởng tín dụng thấp khiến huy động không có cơ sở mở rộng. Cho tới hết tháng 3/2020, tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng mới đạt 1,3%. Điều này được giải thích do khó khăn trong giai đoạn dịch Covid.

Tăng trưởng tín dụng thấp dẫn tới việc các ngân hàng không đẩy được vốn từ thị trường 2 đang dư thừa xuống thị trường 1. Việc này tiếp tục từ quý I cho tới thời điểm hiện tại.

Thứ hai, do các ngân hàng vẫn phải thực hiện đảm bảo tỷ lệ với Ngân hàng Nhà nước

Mặc dù Thông tư 01/2020/TT-NHNN về việc hoãn, giãn, tái cơ cấu và giữ nguyên nhóm nợ được đưa ra, nhưng điều này lại gián tiếp khiến các tỷ lệ về thanh khoản tại thị trường 1 của các ngân hàng, bao gồm tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và LDR bị áp lực, khiến lãi suất huy động khó có thể giảm.

Thứ ba, do tiếp tục bị cạnh tranh bởi kênh trái phiếu

Kênh trái phiếu doanh nghiệp bao gồm cả chính trái phiếu ngân hàng vẫn tiếp tục là kênh cạnh tranh trực tiếp với huy động của ngân hàng.

Theo thống kê của Công ty Chứng khoán SSI, riêng trong quý I/2020, các doanh nghiệp còn đang chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19 nhưng lượng phát hành vẫn tăng trưởng khoảng 39% so với cùng kỳ 2019.

Cụ thể, có tổng cộng 47.500 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp được phát hành trong thời gian này. Trong đó, có 5.000 tỷ đồng phát hành ra công chúng của CTCP Tập đoàn Masan (MSN), còn lại thuộc về 256 đợt phát hành riêng lẻ của 17 doanh nghiệp niêm yết và 48 doanh nghiệp chưa niêm yết.

Các lý do trên dẫn tới việc lãi suất của thị trường 1 khó hạ dù việc dư thừa vốn hiện tại không cần thiết để Ngân hàng Nhà nước đưa ra thêm bất kỳ biện pháp kích thích tiền tệ nào. Ngược lại, giữ ổn định được lãi suất và tỷ giá trong giai đoạn hiện tại lại là điều kiện để dòng vốn ngoại đổ vào Việt Nam.    

Theo ĐTCK

Cơ hội khi định giá về vùng thấp 5 năm

Định giá chứng khoán Việt Nam lùi về vùng thấp nhất 5 năm, nhiều cổ phiếu giảm sâu dưới mệnh giá. Tuy nhiên, khi dòng vốn ngoại chưa đảo chiều, lãi suất vẫn neo cao và thanh khoản chưa cải thiện rõ rệt, cơ hội đầu tư cần nhìn nhận trong dài hạn.

Thị trường chứng khoán sau nâng hạng: Tập trung nâng chất lượng, thu hút vốn dài hạn

Sau 30 năm phát triển, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã mở rộng quy mô, hoàn thiện cấu trúc và được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Giai đoạn tới, trọng tâm là cải cách thể chế, đa dạng hóa sản phẩm, phát triển nhà đầu tư tổ chức và tăng cường số hóa.

Mùa báo cáo quý III: Phép thử niềm tin

VN-Index vẫn quanh vùng 1.760 điểm, nhưng chỉ 26,2% số cổ phiếu nằm trên EMA50 và 23,7% trên EMA200, cho thấy độ rộng thị trường suy yếu rõ rệt. Mùa báo cáo quý III/2026 được kỳ vọng ghi nhận lợi nhuận tăng 23-25%, nhưng có thể chủ yếu tạo cơ hội chọn lọc cổ phiếu thay vì thúc đẩy toàn thị trường bứt phá.

Từ giá carbon đến dòng vốn

Thị trường carbon đang mở thêm một kênh định giá cho hoạt động phát thải, nhưng để tín hiệu đó tác động đến quyết định đầu tư và huy động vốn, Việt Nam còn phải giải bài toán về dữ liệu, tiêu chuẩn xác minh, kỳ hạn và cấu trúc sản phẩm tài chính.

Thông tư 50 - những cổ phiếu ngân hàng nào hưởng lợi?

Phần lớn ngân hàng niêm yết có khả năng đáp ứng sớm các yêu cầu về LCR và NSFR theo Thông tư 50. Việc áp dụng sớm cơ chế mới có thể nâng trần LDR lên 95%, qua đó mở thêm dư địa tăng trưởng tín dụng.

Thị trường phân hóa, nhóm cảng biển và bán lẻ khởi sắc

Trong bối cảnh thị trường chung giao dịch phân hóa và các nhóm trụ cột Vingroup, ngân hàng - chứng khoán gia tăng sức ép khiến VN-Index đảo chiều sau 2 phiên hồi phục, một số nhóm ngành vẫn đua nhau khởi sắc như cảng biển, bán lẻ...

Video